Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua hoạt động xét xử 1. Giáo dục pháp luật Theo Từ điển Bách khoa, giáo dục là “Quá trình đào tạo con người một cách có mục đích, nhằm chuẩn bị cho con người tham gia đời sống xã hội, tham gia lao động sản xuất, được thực hiện bằng cách tổ chức việc truyền thụ và lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của loài người” [1, tr. Theo định nghĩa của Đại Từ điển tiếng Việt, giáo dục là “Tác động có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, để họ dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra” [2, tr.
Có thể hiểu, giáo dục là một quá trình có chủ đích, có phương pháp để truyền tải những thông tin, kiến thức tác động đến hiểu biết, nhận thức, tình cảm của đối tượng được giáo dục. Tùy từng lĩnh vực giáo dục cụ thể mà hình thành nên khái niệm giáo dục tương ứng như giáo dục đạo đức, giáo dục văn hóa, giáo dục quốc phòng, giáo dục thể chất, giáo dục công dân, GDPL. Về khái niệm GDPL, hiện nay nhiều ý kiến khác nhau. Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: “GDPL là sự tác động định hướng của tổ hợp các quá trình xây dựng pháp luật, áp dụng pháp luật, tuyên truyền, giải thích pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật” [1, tr.
Theo Giáo trình lý luận về Nhà nước và pháp luật của một số cơ sở nghiên cứu và đào tạo luật trong nước, GDPL được định nghĩa: “GDPL là hoạt động có định hướng, có mục đích trang bị kiến thức pháp luật, nhằm hình thành ở đối tượng được giáo dục những tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với yêu cầu của 8 pháp luật” [3, tr. 106] hoặc “GDPL là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích và thường xuyên tới nhận thức của con người nhằm trang bị cho mỗi người một trình độ kiến thức pháp lý nhất định để từ đó có ý thức đúng đắn về pháp luật, tôn trọng và tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật” [3, tr. Hai hướng tiếp cận này có điểm chung khi xác định mục tiêu của GDPL. Theo nghĩa rộng, GDPL được coi là một bộ phận, một phần của hệ thống giáo dục nói chung, là một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con khác như kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức.
tạo nên một hệ thống các quan hệ xã hội tác động đến cá nhân, làm hình thành nên bản chất lịch sử - xã hội của con người [6, tr. Theo nghĩa hẹp, GDPL là quá trình tác động (hoạt động) có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (chủ thể GDPL) để chuyển tải, truyền đạt những nội dung (thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật…) thông qua các phương pháp giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tượng tiếp nhận GDPL nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định [7, tr. Xét mối quan hệ giữa GDPL với tuyên truyền pháp luật và phổ biến pháp luật: Tuyên truyền pháp luật có nội hàm hẹp hơn GDPL. GDPL bao gồm nhiều hình thức và có tính thường xuyên, liên tục, mang tính chất là một quá trình trên các quy mô khác nhau, đa dạng về chủ thể và nội dung, phương pháp.
Tuyên truyền pháp luật, phổ biến pháp luật là một trong những hình thức cơ bản của GDPL. Ngoài phương diện tuyên truyền, phổ biến pháp luật, phạm trù GDPL còn bao hàm các hình thức khác như đào tạo, bồi dưỡng, giảng dạy, tập huấn, tiếp cận pháp luật ở các cấp độ nhất định. Từ những phân tích trên, có thể rút ra khái niệm GDPL như sau: GDPL là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có mục đích do các chủ thể có chức năng, nhiệm vụ GDPL tiến hành thông qua các phương pháp, hình thức đa dạng, linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng nhằm truyền tải kiến thức pháp 9 luật, từ đó hình thành ý thức pháp luật, tình cảm, niềm tin về pháp luật và hành vi phù hợp với các yêu cầu của pháp luật hiện hành. Giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua hoạt động xét xử của Tòa án Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc tập trung quyền lực có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp.
Thực hiện quyền tư pháp là một trong những chức năng rất quan trọng của Nhà nước Việt Nam và được giao cho Toà án nhân dân. Hiến pháp năm 2013 quy định: “TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, “có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” [38]. Trong hoạt động tư pháp, xét xử được coi là khâu trung tâm có vai trò quyết định. Tòa án có thể thực hiện việc GDPL bằng nhiều hình thức, nhưng tập trung nhất và quan trọng nhất vẫn là giáo dục qua hoạt động xét xử.
Góc độ tiếp cận thứ nhất, xét xử là hoạt động của Tòa án tại phiên tòa để xem xét các chứng cứ và căn cứ vào pháp luật, xử lý vụ án bằng việc ra bản án và các quyết định của Tòa án [18, tr112]. Góc độ tiếp cận thứ hai, xét xử cũng được hiểu theo nghĩa là một giai đoạn tố tụng quan trọng được tiến hành dưới hình thức phiên toà nhằm xem xét, phán xét, nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết theo trình tự luật định những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án [42, tr. Trong hoạt động tư pháp, xét xử được coi là khâu trung tâm có vai trò quyết định. Tòa án có thể thực hiện việc GDPL bằng nhiều hình thức, nhưng tập trung nhất và quan trọng nhất vẫn là giáo dục qua hoạt động xét xử.
Hoạt động xét xử của Tòa án là quá trình áp dụng pháp luật, được tiến hành theo một trình tự thủ 10 tục tố tụng nhất định, hoạt động xét xử gắn với việc Tòa án nhân danh Nhà nước nhằm xem xét, đánh giá và ra phán quyết để giải quyết các cáo buộc và tranh chấp pháp lý nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Có thể hiểu, GDPL trong hoạt động xét xử của Tòa án: Là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch của các chủ thể tiến hành tố tụng trong quá trình xét xử đến các đối tượng được giáo dục, giúp hình thành ở họ ý thức xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật. Việt Nam là một trong những quốc gia có số lượng các dân tộc khác nhau trên lãnh thổ nhiều nhất trên thế giới với 54 dân tộc anh em. Trong đó 54 dân tộc mang 54 màu sắc văn hóa khác nhau, tạo lên sự phong phú, đa dạng cho đất nước.
Trong số 54 dân tộc anh em thì có những nhóm dân tộc đặc trưng mà thường được gọi tên là DTTS. Hiện nay khái niệm DTTS được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như sau: “DTTS là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[7]. Như vậy, DTTS là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tổng dân số cả nước, đa số các DTTS đều tập trung sinh sống ở những khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xa, có điều kiện kinh tế khó khăn, vấn đề giáo dục, chăm sóc sức khỏe người dân còn nhiều hạn chế. Từ những nhận định trên, có thể đưa ra một khái niệm chung về GDPL cho đồng bào DTTS thông qua hoạt động xét xử tại Tòa án như sau: GDPL cho đồng bào DTTS thông qua hoạt động xét xử của Tòa án là việc Toà án thông qua các thủ tục tố tụng trước phiên toà, tại phiên toà và sau phiên toà thực hiện một cách có tổ chức, có chủ định việc cung cấp cho các đối tượng là đồng bào DTTS những tri thức, hiểu biết cụ thể về các vấn đề pháp luật liên quan đến hoạt động xét xử đang được tiến hành, giúp hình thành ở đối tượng ý thức trách nhiệm, trạng thái tâm lý, tình cảm pháp luật đúng đắn, tạo cơ sở cho hành vi xử sự phù hợp với yêu cầu của pháp luật, qua đó hỗ trợ, củng cố và phát huy tác dụng của chính hoạt 11 động xét xử của Tòa án.
Đặc điểm giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số thông qua hoạt động xét xử của Tòa án GDPL thông qua hoạt động xét xử của Tòa án vừa có những đặc điểm của GDPL nói chung vừa có những đặc trưng riêng. Thứ nhất, chủ thể GDPL là những người tiến hành tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Theo đó, cùng với Thẩm phán và các thành viên trong hội đồng xét xử, còn có các chủ thể khác như Kiểm sát viên, Thư ký tòa án, Luật sư… cũng giữ vai trò giáo dục pháp luật đến đồng bào DTTS tại phiên tòa xét xử. Theo đó, chủ thể GDPL bên cạnh kiến thức, trình độ chuyên môn đòi hỏi phải hiểu biết ngôn ngữ, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán của người đồng bào DTTS, cũng như thuần thục các kỹ năng làm việc với đồng bào DTTS.
Vai trò GDPL chủ yếu do Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên thực hiện trong quá trình phổ biến quyền và nghĩa vụ, xét hỏi, tranh luận và ra bản án, quyết định giải quyết vụ án, vụ việc. Trong quá trình xét xử, bên cạnh việc tác động đến bị cáo, khiến bị cáo nhận ra lỗi lầm và mong muốn được sửa chữa lỗi lầm, ăn năn, hối cải; đồng thời còn phải tác động đến ý thức và hành vi đến tất cả những người tham dự phiên toà, hình thành cho họ tinh thần thượng tôn pháp luật và tinh thần đấu tranh phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật, tội phạm.