CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC XÂY DỰNG SỬ DỤNG CÂU HỘI NHẬN THỨC TỪ ĐÔ DÙNG TRỰC QUAN QUY ƯỚC ĐỀ PHÁT TRIÊN NĂNG LỰC HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHÔ THONG 1. Quan niệm và phân loại đồ dùng trực quan quy ưóc trong dạy học lịch sử ở' trường Trung học phổ thông 1. Quan niệm về đỏ dùng trực quan quợ tóc.
Do đặc điểm của việc học tập lịch sử là không thể trực tiếp quan sát đổi tượng nên phương pháp trực quan có ý nghĩa rất quan trọng nhằm tạo cho HS những biểu tượng và hình thành các khái niệm trên cơ sở quan sát ác hiện vật hay đồ dùng trực quan minh họa về sự vật.U-sin-xki gọi “nguyên tắc trực quan là cách học không chỉ đựa vào lời nói, mà dựa vào những hình ảnh cụ thé ma 1S tiếp nhậm được” [23, tr. Có nhiều loại đỗ dùng trực quan khác nhau, như đồ dùng. trực quan tạo hình, hiện vật và quy ước, Vậy đồ dùng trực quan quy ước là ô dùng trực quan quy: ước là những bản đỏ, kí hiệu hình hoc dom giản được sử dụng trong dạy học lịch sử, là loại đồ dùng trực quan mà giữa người thiết kế đồ dùng, người sử dụng và người học có một số quy ước ngầm nào đó (về màu sắc, kí hiệu hình học đơn giản. 4] Đỗ dùng trực quan quy ước (ĐDTQQU) là loại đổ dùng trực quan tiện lợi, ít tổn kém nhưng hiệu quả dạy học của nó th rắt cao, Thông qua quan sắt, đọc ký hiệu, nội dung lịch sử được biểu hiện trên đồ dùng trực quan quy ước có thể phát triển được khả năng quan sát, trí tưởng tượng, tư duy ngôn ngữ và khả năng thực hành cho HS.
Phân loại đồ dùng trực quan quy wie Trong dạy học lịch sử có rất nhiều loại ĐDTQQƯ vả mỗi loại có một ý nghĩa khác nhau: 1s * Bản đồ, lược đỗ. + Bản đổ là loại ĐDTQQƯ quan trong, cằn thiết nhằm giúp HS xác định địa điểm của sự kiện, thời gian, không gian nhất định. Đồng thời, bản đỏ lị sử côn những kiến thức đã học. Về hình thức bản đồ không cẵn nhiều chỉ tiết về điều kiện tự nhiên mà cẳn những kí hiệu như đường biên giới quốc gia, sự phân bổ dân cư, thành phố các vùng kinh tế, địa điểm những biến cổ quan trong.
Vé ni dụng, bản đồ lịch sử có thể chia làm hai loại chính: Bản đồ tổng hợp và bản đồ chuyên đề, Bản đồ tổng hợp: “Phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng nhất của một. nước hay nhiều nước có liên quan ở một thời kì nhất định, trong những điều kiện tự. nhiên nhất dink” [27, tr47| Ban đồ chuyên đề: “Nhằm diễn tả những sự kiện riêng lẻ hay một mặt của quả trình lịch sử như diễn biển một trận đánh, sự phát triển kinh t của mội nước. trong một giai đoạn lịch sử." [21, tr4T] + Lược đổ: Lược đồ là bản đồ đơn giản, thường không có lưới bản đỗ, Nó cho ta khái niệm chung vẻ các hiện tượng (sự kiện) đã được biểu hiện trên bản đỏ, nêu bật được những nét cơ bản của chúng.
* Đồi à loại ĐDTQQƯ dùng dé diễn tả quá trình phát triển, sự vận động của một sự kiện lịch sử, trên cơ sở sử dụng số liệu, tải liệu thống kê trong bài học. “Đồ thị có th biểu diễn bằng một mũi tên minh họa sự vận động đi lên, sự phát triển của mỗi hiện tượng lịch sử, hoặc biểu diễn của một trục tọa độ: trục hoành (ghi thời gian) và trục tưng (ghỉ sự kiện)” [27, trS0) * Niên biểu. Là bảng thống kê hệ thống các sự kiện quan trọng được sắp xÉp theo thứ tự. thời gian, đồng thời nêu lên được mối liên hệ cơ bản giữa các sự kiện đó.
Vì thể, trong dạy học lịch sử khi củng có kiến thức cho HS một cách hệ thống, GV nên sử: dung niên biểu. Trên cơ sở đặc thù của bộ môn và nội dung cụ thể của từng bài học có thể chia niên biểu thành ba loại 16 Niên biểu tổng hợp: *Là bảng liệt kế những sự kiện lớn xáy ra trong một thời gian dài. Loại niễn biểu này không chỉ giáp HS nắm sự kiện mà còn nắm các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ các sự kiện quan trọng” [21, tr-48]. Sử dụng niên biểu này khi tiến hành dạy các bài ôn tập, tổng kết nhằm hệ thống hóa kiến thức cho Hồ.
Nid biểu so sánh: “Lả foại niền biểu dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện, xảy ra cùng một lúc trong lich sử nhằm làm ni bật bản chắt đặc trưng của các sự kiện Ấy hoặc rút ra kết luận khái quát có tính chất nguyên lí” [21, tr49), Niên biểu chuyên đề. *Đ/ sẩu trình bay nội dung một vẫn đề quan trọng nổi bật nào đây của một thời ÿ lịch sử nhất định, nhờ đỏ mà HS hiểu được bản chất của một sự kiện, hiện tượng lịch sử một cách đây đủ và toàn diện 27, tr 48}. + Sơ đồ: Sơ đồ là loại ĐDTQQƯ “nhằm cự thể hóa nội dung sự kiện bằng. những hình học don giản, diễn tả một tổ chức, một cơ cầu xã hội, một chế độ chính trị, mỗi quan hệ giữa các sự kiện lịch st "D7, tr50] + Biểu đồ: Biểu dé lịch sử là loại đồ dùng trực quan quy wée“nhdm dién 1, so sánh sự thay đỗi trong cơ cấu hay mặt cẫu tạo của một hiện tượng lịch sử.
Biểu đỗ được thể hiện dưới nhiều dạng như biểu đô chiểu dài, biểu đồ điện tích (hình vuông, hình tròn) biểu đỗ thé tích (hình khối, hình cầu) 13, tr59|. Việc sử dụng biểu đề giúp HS dễ xác định được giá trị của các hiện tượng và mối quan hệ giữa chúng. Do đó rit e6 tru thể trong việc giúp so sánh trị số giá trị của các sự kiện và. thấy được bản chất của sự kiện đó.
Quan niệm vỀ câu hỏi, câu hỏi nhận thức trong dạy học lịch sử ở trường. Trung học phổ thông 1. Quan niệm vẻ câu hỏi Trong cuộc sống hàng ngày, trước các vấn đề hoài nghỉ hay thắc mắc con người thường đặt ra các câu hỏi. Các câu hỏi tại sao?, như thể nào?.
là sản phẩm. hoạt động tư duy của con người cho thấy năng lực nhìn thấy vấn để, nhìn thấy mâu thuẫn, yêu cầu tư duy con người phải hoạt đông. Nó là một đông lực thúc đây tư. duy phát triển.
Đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi đó là từng bước giải quyết mâu 1? thuẫn, tạo ra sự nhận thức mới. Trên bình diện triết học là sự đầu tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập. Tìm ra được các mâu thuẫn đó cũng có nghĩa là đang nhận thức th giới qua việc nắm it ban chat của sự. hiện tượng thuẫn giữa điều đã biết và chưa biết cũng là đi đến sự hiểu biết.
Một hình thức thông thường, duy nhất để biểu hiện mâu thuẫn là câu hỏi. Vậy âu hỏi là gi? Nếu nhận diện câu hỏi theo tiêu chuẩn mục đích thì “edu hoi là cấu được dùng để tỏ ý muốn biết một vật gì hay một diéu gi” (1, tr. 18] “Theo Khánh Dương, "cấu hỏi là kiểu câu nghỉ vấn nhằm làm rõ, giải thích, nhận xét, đánh giá thông tin; phân tích, so sánh những liên quan đến sự vật và vê tản thân sự vật dưới hình thức trả lời, đáp lại” |15, tự. Còn theo Nguyễn Kim Thin thi: “ 'Câu nghĩ vẫn nhằm mục đích nêu lên sự hoài nghỉ của người nói va nói chung đòi hỏi người nghe tường thuật vẻ đổi tượng hoặc đặc trưng của đối tượng” |38, tr.
151] “Tông hợp những ý kiến trên, tác giá Diệp Quang Ban cho ring: “Cau hdi nghỉ vấn thường được dùng dé nêu lên điều chưa biết hoặc câu hoài nghỉ và chờ đợi sự trả lồi, giải thích của người tiếp nhận câu hỏi và về mặt hình thức, câu nghỉ vẫn cũng có những dẫu hiệu đặc trưng nhất dink” (2, tt. 8] Nhu vay, hỏi nói chung là câu được đùng để đạt một điều chưa. một thắc mắc, một vấn đề cần làm sáng tỏ, cần giải thích. Và hoi thường đi với các từ để hỏi đồng thời kết thúc bằng dấu chấm hỏi.
Quan niệm câu hỏi nhận thức trong dạy học lịch sử. “Câu hỏi trong day hoc “la cấu nói yêu edu, néu ra mot nhigm vu cho HIS thực hiện, nêu lên vấn đẻ nhận thức đòi hỏi IIS phải suy nghĩ cân nhắc rồi đưa ra câu trả lời. Câu hỏi trong dạy học được đưa ra trong một điễu kiện cụ thẻ, hoàn cảnh cụ thể, nhằm vào một đối tượng cụ thể" |28, tr. 20-21], Khác với câu hỏi thông thường, câu hi trong dạy học có chức năng cơ bản nhất là tổ chức quá trình lĩnh hội tri thức cho HS.
Bên cạnh đó, nó còn có chức năng, kích thích khả năng tư duy của HS, đưa HS vào tình huống có vấn đẻ, giao cho HS một nhiệm vụ, đòi hỏi HS phải tìm hiểu và giải đáp được vấn đề đó bằng các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quất hóa, trừu tượng hóa, cụ thể hóa, tập cho HS suy luận, giải thíc, chứng minh, trình bày. 18 “Trong dạy học lịch sử, các câu hỏi có thể được GV hoặc chính HS đặt ra cho bản thân nhằm giải quyết các nhiệm vụ nhận thức. Các câu hỏi này nếu được giải đáp sẽ giúp HS tái hiện, nắm rõ bản chất lịch sử và vân dụng đề tìm hiểu các vấn đề thực tế cuộc sống, góp phần hình thành nhân cách HS, định hướng các hoạt động thực tiễn của họ. C6 nhiễu loại câu hỏi như: Câu hỏi thắng, câu hỏi khẳng định, câu hỏi phủ định, câu hôi cầu khiến, câu hỏï có tính chất tu từ.
Nhưng trong dạy học lịch sử, chúng ta phải chú ý tới việc đặt câu hỏi nhận thức bởi đây là một trong những, phương pháp quan trọng nhằm phát triển năng lực của HS Về bản chất: câu hỏi nhận thức là câu hỏi khi đặt ra tạo được mâu thuẫn trong nhận thức của HS, để giải quyết mâu thuẫn đó, nếu chỉ sử dựng kiển thức cũ: Hải không giải quyết được, không trổ lời được câu hỏi. Muốn rả lời câu hỏi, giải máu thuẫn nhận thức thì đòi hỏi HS phải viện dẫn các điều kiện sau: ~ HS phải huy động vốn kiến thức cũ ~ HS phải tiếp nhận những thông tin (kiến thức mới) do thầy cung cấp khi giảng bài.