Chương I PHAT TRIEN NẴNG LỰC NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HOC PHO THONG ~ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN 1. Khái niệm năng lực, năng lực nhận thức + Năng lực: Năng lực là một phạm trù được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, có nhiều định nghĩa khác nhau về NL: Theo từ điền Tiếng Việt: “NI. là khả năng, điều kiện chú quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoại động nào đó với chất lượng cao".
|58, tr596] Đứng về góc độ tâm lý, NI. được xem là một tô hợp các thuộc tính tâm lí để đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đem lại hiệu quả cao cho hoạt động đó, với những quan niệm khác nhau. Theo từ điển tâm lí học thì: “AE lä sập lợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lí cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động ni Ít định” [44, trä1]. Trong “Giáo trình tâm lí học đại cương" do Nguyễn Quang Uấn chủ ên, nhóm tác giả cho rằng: “Xf.
là các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một dạng hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó có hiệu quả ”. Theo Cosmovies thì: “NL là sổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giãa người này với người khác ở khá năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định” [44, tr. Nhà tâm lí học A.Leoehiev cho rằng: “N/, là đặc điểm cá nhân uy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định" [44, tr.31] Khái niệm NL được nhìn nhân ở góc độ giáo dục học có những quan niệm sau: Trong tác phẩm “Giáo dục học hiện đại (những nội dung cơ bản)” tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng: “Nf. đà những đặc điểm tâm li của nhân cách, là điều 14 kiện chủ quan dé thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhắt định.
NL có quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. NL thé hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bén ving và pham vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động ở tính sáng tao, tinh độc đáo của phương. pháp hoạt động. Một số NI.
có thể đo được bằng trắc nghiệm ”.25] “Theo chương trình giáo dục Quécbec (Chương trình GDTH Quécbec - Bộ giáo dục Canada - 2004) thì: “Mf. là khá năng hành động hiệu quả bằng sự có gắng. dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tắt cả những gì học được từ phía nhà trường cũng như những kinh nghiệm của HS: những kỹ năng.
thái độ và sự hứng thú: ngoài ra còn những nguồn lực bên ngoài chẳng hạn như ban cing lép, thầy, cô giáo, các chuyên gia hoặc các nguồn hông tin khác”.26] Về mặt cấu tạo, NL được hình thành trên cơ sở sự công hưởng, tác động qua lai của các thành tổ kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và trang thái tâm lí: hứng thú, tính kiên trì. của chủ thể. Trong đó, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo là những yếu tố thuộc. pham trù "khả năng”, là những điều kiện tiên quyết cho phép con người thực hiện được một hành động nào đó.
NL có mỗi quan hệ với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo. Kỹ năng là phương thứ ân dụng tri hức vào hoạt động thực hành đã được cũng cố. Kỹ xảo là những hành động đã trở nên tư đông hóa nhờ luyện tập. Trỉ thức và kỹ năng, ky x là điều kiện cần thiết (nhưng không phải i) để hình thành NL.
Năng lực góp phi lâm cho quá trình tiếp thu tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo diễn ra nhanh chóng và thuận lợi. Hay nói ch kh nếu khả năng phân ảnh sự thành công, của hành động, thì NL lại phản ánh thiên hưởng phát triển về chất của hành động. Do vậy, NL, không phải là một thuộc tính tâm lí đuy nhất nào đó (ví dụ như. khả năng, trí giác, trí nhớ.) mà nó là sự thông nhất hữu cơ trong quan hệ tương tác qua lại giữa các thuộc tính tâm lí.
được hình thành và phát triển trong hoạt động, hoạt động là phương thức cơ bản để phát triển NL. Tương ứng với mỗi loại hành đông các thuộc tính tâm lí sẽ kết hợp thành một hệ thống để tương tác, hỗ trợ lẫn nhau tạo điều kiện thuận lợi cho phép hành đông được tiễn hành. Trong sự tương tác, hỗ trợ đó sẽ có một thuộc tính nỗi lên với tư cách chủ đạo, còn những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc. Vì thế, trong mỗi lĩnh vực khác nhau, sẽ có những NI.
chuyên biệt được hình thành trên cơ sở những thao tác tư duy, thuộc tính tâm lí nhất định phủ hợp với đặc trưng nghiên cứu, học tập và thực hành của lĩnh vực đó. 15 Từ những quan điểm và phân tích nêu trên chúng ta có thể hiểu một cách khái quát: ME tà một tổ hợp các thuộc tính tâm lí của cá nhân bao gồm kiến thức, Xỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như sự hứng thú, niềm từn, ý chí. tạo điều kiện thuận lợi, phù hợp với yêu cầu của mỗi hành động, cho phép hành động đó được diễn ra nhanh và có hiệu quả trong những tình huống khác nhau. (tác giả định nghĩa) NL ca HS là một hệ thống có cấu trúc động, có tính mở, đa thành tổ, đa tầng.
bậc, hàm chứa trong đó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niễm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội. thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường hoe tập ph thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội. [44, tr32] + Năng lực nhận thúc: 'Nhân thức là hoạt đông đặc trưng của con người, gắn liền với tiền trình hình thành, phát triển của con người và lịch sử xã hội loài người. Liên quan đến khái niệm này, có nhiều định nghĩa khác nhau: Theo từ điển Tiếng Việt “MT” là “quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư đuy; quá trình con người nhận biết, hiểu biết thể giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó”.649| Trong “Từ điển tâm lý học” “MT la hiểu một điều gì đó, tiếp thu những kiến thức về điều nào đó, hiểu biết những quy luật về những hiện tượng, quá trình nào." |48, tr20] ý luân NT của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định “AT la qué trình phản ảnh hiện thực khách quan bởi con người, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc người về hiện thực khách quan, là quá trình con người phản ánh một cách biện chứng, năng động sáng tạo thể giới khách quan trên cơ sở thực tiễn lịch sứ - xã hoi”.
(7, tr107] Mặc dù có những cách lí giải khác nhau về nội hàm của khái niệm NT, nhưng nhìn chung những định nghĩa trên đều thống nhất với cách nhìn nhận: “V7” là hoạt động có chủ đích của con người nhằm phản ánh một vẫn đề gì đó vào bộ não người đặt cơ sở đễ hình thành trì thức về vẫn dé đó”. (ác giả định nghĩa) NT của con người không phải là một quá trình nhất thời, bộc phát mà được tiến hành một cách biện chứng, sáng tạo đi từ mức độ thấp đến mức độ cao, từ đơn giãn đến phức tạp thể hiện qua hai giai đoạn: NT cảm tinh va NT lí tính 16 NT cảm tính (còn gọi là NT trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình NT, Trong giai đoạn NT này, con người sử dụng các giác quan để tiến hành phản ánh các sự vật khách quan nên chỉ phản ánh được các biểu hiện bên ngoài của sự vật cụ thể trong hiện thực khách quan, chưa phản ánh được nội dung bản chất bên trong của những hiện tượng quan sát được. Nó biểu hiện ở ba hình. thức: cảm giác, tr giác và biểu tượng NT lý tính (còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn tiếp theo và cao hơn vẻ chất của quá trình NT.
Là hình thức phân ánh khái quát, gián tiếp, sâu sắc và đầy đủ vé hiện thực khách quan. Vì vậy, nó phản ánh được những mỗi liên hệ bên trong, bản chất, phổ biển, tắt yếu của sự vật, hiện tượng. Trong giai đoạn này, NT được. thực hiện qua ba hình thức: khái niệm, phán đoán và suy lí Tuy là hai giai đoạn khác nhau về chất, có đặc điểm và vai trò khác nhau trong NT thế giới khách quan nhưng NT cảm tính và lý tính lại không tách rời nhau.
mà thống nhất biện chứng với nhau. NT cảm tính là cơ sở của NT lý tính, không có. NT cảm tính thi không có NT lý tính. Ngược lai, NT cảm tính mà không có NT lý tinh thi không thể nắm bắt được bản chất và quy luật của sự vật, hiện tượng.
thực "ai giai đoạn NT này luôn đan xen nhau. Tir ni him của khái nigm “NL”, “NT” va những phân tích trên, theo chúng tôi năng lực nhận thức là một tỔ hợp các thuộc tính tâm lí cña cá nhân, giúp cá nhân có thễ nằm bắt, hiễu và vận dụng tốt những trì thức khoa học đã có dé hình thành những trí thức mới trong bộ não người. c giả định nghĩa) Trong dạy học, hoạt động NT của HS mang những nét đặc thù. Nếu qué trinh AT chưng của xã hội chủ yếu để thư nhận những trí thức mới thì quá trình NT của 1IS chủ yếu là lĩnh hội lại những trí thức mà nhân loại đã khám phá trong một thời gian nhất định và biển những tri thức đó thành tài sản riêng của từng cá nhân.
Tính sáng tạo trong hoạt động NT của HS không phải là tạo ra được những điều mới cho xã hội, mà là cho chính bản thân HS. Đó là những cơ sở, nễn tâng quan trong dé sau này HS có thể khám phá, tạo ra được những điểu mới, cái mới góp phần làm phong phú hơn kho tầng trì thức của nhân loại. Trên đại thể, quá trình NT của HS trong học tập diễn ra theo một trình tự, tuân thủ các nguyên tắc của con đường biện chứng của việc NT mà V.L ênin đã nêu - đừ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và Từ tr duy trừu tượng đến thực tiễn [42, tr. 115] 17 Khác với các lĩnh vực khác, đối tượng NT của khoa học lịch sử (LS) nhìn chung không lặp lại cả về thời gian và không gian.