CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH LỚP 2 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM 1. Giáo dục bảo vệ môi trường 1. Khái niệm môi trường và bảo vệ môi trường * Khái niệm môi trường Khái niệm MT đã được đưa ra tranh luận từ lâu và được hiểu theo nhiều cách khác nhau, không thống nhất, vì nó phụ thuộc vào quá trình nhận thức và cách nhìn nhận vấn đề theo các góc độ chuyên môn khác nhau.Ví dụ như: - Các nhà khoa học nhấn mạnh: MT là điều kiện cần thiết cho sự di truyền những tính chất đặc biệt của sinh vật và ngược lại đó cũng là nơi và điều kiện để tạo ra những biến dị mới, những loài mới [16].
- Các nhà địa lý thì cho rằng MT mà cụ thể là MT địa lí là một bộ phận tự nhiên của bề mặt trái đất bao quanh xã hội loài người, bị thay đổi bởi xã hội loài người ở mức độ này hay mức độ khác, ở những thời điểm nhất định có quan hệ trực tiếp với bộ phận đó trong thời gian sinh sống và hoạt động sản xuất của mình [17]. Vì vậy nếu hiểu theo nghĩa khái quát nhất: MT của một vật thể hoặc một sự kiện là tổng hợp tất cả các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp tới vật thể hay sự kiện đó. Đối với con người, MT sống là MT quan trọng nhất và nó chứa nội dung rộng hơn. Đó là tổng hợp các điều kiện vật lí, hoá học, sinh học, xã hội bao quanh có ảnh hưởng tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người.
Tùy theo nội dung nghiên cứu mà môi trường sống của con người được phân thành MT tự nhiên, MT nhân tạo, MT xã hội. MT tự nhiên bao gồm các nhân tố tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người và ít chịu sự chi phối của con người. 13 MT xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người tạo nên sự thuận lợi hoặc trở ngại cho sự tồn tại và phát triển của cá nhân và của cộng đồng con người. MT nhân tạo bao gồm tất cả những nhân tố vật lí, sinh học, xã hội do con người tạo nên và chịu sự chi phối của con người.
Chúng sẽ tự hủy nếu không có sự tác động của con người. Tuy nhiên sự phân chia này chỉ để phục vụ nghiên cứu, phân tích các hiện tượng phức tạp trong môi trường. Trong thực tế ba loại MT trên cùng tồn tại, xen lẫn vào nhau, tương tác với nhau hết sức chặt chẽ. Vì vậy, MT là một khái niệm rộng lớn chứa đựng nội dung phong phú và đa dạng.
Hiện nay khái niệm MT được tổ chức thế giới sử dụng, đó là khái niệm của UNESCO đưa ra năm 1981. MT con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và hệ thống xã hội do con người tạo ra, trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác những tài nguyên tự nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người [14]. Theo Điểm 1 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2005 thì: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật [15]. Như vậy, dưới các góc độ khác nhau thì có cách nhìn nhận về MT khác nhau.
Nếu khái quát hoá lại ta có thể hiểu khái niệm MT như sau: MT là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống xã hội do con người tạo ra, chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bao xung quanh con người và ảnh hưởng tới đời sống sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. * Khái niệm bảo vệ môi trường Khái niệm “Bảo vệ môi trường” chỉ mới được sử dụng ở những năm đầu của thế kỉ XX. Khái niệm này lần đầu tiên được trình bày (năm 1913) như sau: “BVMT là ý muốn chung hướng tới việc bảo tồn những di sản của thiên nhiên và việc chăm sóc chúng” [16]. Về sau, nội dung của khái niệm này được mở rộng và được cụ thể hóa thêm.
BVMT không chỉ là sự bảo tồn 14 những đối tượng hiếm, đặc hữu của tự nhiên để chúng khỏi bị tiêu diệt, mà còn là việc sử dụng một cách hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường sống khỏi bị ô nhiễm, giữ gìn, bảo tồn và làm giàu thêm các tài nguyên thiên nhiên, cũng như giữ gìn và bảo tồn các phong cảnh, các di tích lịch sử, di tích văn hóa của dân tộc và nhân loại. Khái niệm BVMT ở đây bao hàm cả khái niệm bảo vệ tự nhiên. Trong khái niệm MT có cả MT tự nhiên và MT nhân tạo, đó là môi trường sống, lao động, nghỉ ngơi và giải trí của con người. Ngày nay, với sự bùng nổ dân số, nhu cầu khai thác các nguồn tài nguyên ngày càng lớn, cùng với sự tác động của cách mạng khoa học - công nghệ, do vậy, BVMT cũng mang một nội dung hoàn toàn mới, bao gồm: Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ sự cân bằng sinh thái.
Sử dụng hợp lý có nghĩa là sử dụng nguồn tài nguyên một cách tiết kiệm, không lãng phí và có hiệu quả. Sử dụng hợp lý còn là việc sử dụng theo một phương án tối ưu, dựa trên cơ sở các quy luật phát triển của MT để có thể khai thác, sử dụng các tài nguyên có lợi nhất và MT cũng tốt lên hơn. Cải tạo, phục hồi các nguồn tài nguyên đã bị cạn kiệt. Ngày nay, nhiệm vụ cải tạo để phục hồi các cảnh quan trở thành nhiệm vụ rất quan trọng, bởi phần lớn các cảnh quan tự nhiên đã bị con người khai thác từ lâu.
Chống ô nhiễm và suy thoái MT. Sự ô nhiễm MT do các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải và sinh hoạt gây ra đang ngày càng trầm trọng. Sự ô nhiễm nặng làm cho MT bị suy thoái, bị phá hủy, đồng thời gây tác hại nghiêm trọng cho sức khỏe và sự phát triển của con người và sinh vật. Bảo vệ tính đa dạng sinh học và vốn gen di truyền quý hiếm của các loài động vật và thực vật.
Nghiên cứu cách phòng chống và dự báo các sự cố MT như: lũ, lụt, hạn hán, động đất, núi lửa, sóng thần; tai nạn trong giao thông, trong xây dựng,. 15 Tóm lại, BVMT là ý muốn chung hướng tới việc sử dụng hợp lý có cải tạo và phục hồi các nguồn tài nguyên trong thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học, sự cân bằng sinh thái, phòng chống sự suy thoái và ô nhiễm MT. Khái niệm Giáo dục bảo vệ môi trường *Giáo dục: Theo Bách khoa toàn thư: Giáo dục là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh [30], khái niệm giáo dục thường được tiếp cận theo hai phạm vi rộng và hẹp, được trình bày như sau: Giáo dục (theo nghĩa rộng) là hoạt động giáo dục tổng thể hình thành và phát triển nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm phát triển tối đa những tiềm năng (sức mạnh thể chất và tinh thần) của con người.
Là quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có kế hoạch thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh các kinh nghiệm xã hội loài người. Giáo dục (nghĩa hẹp) là một bộ phận của hoạt động giáo dục (nghĩa rộng), là hoạt động giáo dục nhằm hình thành thế giới quan khoa học, tư tưởng chính trị, đạo đức, thẩm mỹ, lao động, phát triển thể lực, những hành vi và thói quen ứng xử đúng đắn của cá nhân trong các mối quan hệ xã hội. Theo nghĩa này giáo dục (nghĩa hẹp) bao gồm các bộ phận: đức dục, mỹ dục, thể dục, giáo dục lao động. Như vậy, giáo dục là quá trình tác động có mục đích nhằm hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục dưới sự tổ chức, hướng dẫn của nhà giáo dục.
GD bảo vệ môi trường được định nghĩa là quá trình tác động của nhà giáo dục tới người được giáo dục nhằm mục đích giúp người được giáo dục hình thành những hiểu biết, tri thức về MT và các vấn đề khác liên quan. Một 16 trong những khái niệm tiêu biểu cho định nghĩa này được đưa ra trong luật GDMT của Mỹ, năm 1970: “Giáo dục BVMT là quá trình giúp người học hiểu được mối quan hệ giữa con người với MT tự nhiên và MT xã hội xung quanh, nhận thức được các vấn đề dân số, ô nhiễm, bảo toàn thiên nhiên, kỹ thuật phát triển đô thị và nông thôn có ảnh hưởng đến MT con người như thế nào” [29]. - Một định nghĩa khác về giáo dục BVMT: “Giáo dục BVMT bao gồm các hoạt động giáo dục không những chỉ hình thành cho học sinh những hiểu biết về MT, và những vấn đề liên quan mà còn giúp các em hình thành những thái độ và hành động giải quyết các vấn đề MT, bảo vệ và cải thiện MT”. Năm 1970, khái niệm về BVMT được đề cập đến trong hội thảo “GDMT trong chương trình của trường học” của Hiệp hội Quốc tế về Bảo vệ tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên: “GDMT là một quá trình hình thành những nhận thức, hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa con người với môi trường TN&XH xung quanh con người.
Hơn nữa, GDBVMT đòi hỏi hình thành ở người học khả năng ra quyết định, thái độ và những hoạt động liên quan tới chất lượng MT”. [29] Dựa trên các khái niệm trình bày ở trên, luận văn này “Giáo dục BVMT là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức hình thành nhận thức, thái độ và hành vi ứng xử đúng đắn của con người với môi trường nhằm giữ gìn, ngăn chặn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến các yếu tố TN&XH cần thiết cho sự sống của con người, khai thác và sử dụng hợp lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên”. Hoạt động trải nghiệm 1. Khái niệm trải nghiệm và Hoạt động trải nghiệm Trải nghiệm là một thuật ngữ thường hay được sử dụng trong cuộc sống của con người.
Trải nghiệm là danh động từ, là danh từ thì TN là sự trải nghiệm, động từ là hoạt động trải nghiệm.