Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thủ tục giải quyết các vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên. Chương 2: Thủ tục giải quyết các vụ án đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội trong Luật Tố tụng Hình sự Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn và các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết vụ án là ngƣời chƣa thành niên. 4 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1.
Khái niệm ngƣời chƣa thành niên Thuật ngữ pháp lý sử dụng phổ biến cách gọi “thành niên” và “chưa thành niên” để chỉ ngƣời ở những lứa tuổi nhất định. Đó là cách phân loại con ngƣời theo độ tuổi ngƣời lớn và trẻ em, ngƣời lớn tuổi và ngƣời ít tuổi. “Người thành niên” là ngƣời thuộc lứa tuổi đã trƣởng thành, cũng đƣợc gọi là ngƣời lớn, thanh niên, trung niên… “Người chưa thành niên” là ngƣời thuộc tuổi trẻ, chƣa thực sự trƣởng thành về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên, việc quy định ranh giới độ tuổi thành niên và chƣa thành niên còn chƣa thống nhất giữa các quốc gia và trong các lĩnh vực xã hội.
Điều đó là do điều kiện phát triển kinh tế – xã hội, phong tục, tập quán của mỗi quốc gia, mỗi lĩnh vực có khác nhau. Trong Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989 có quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó đã có quy định độ tuổi thành niên sớm”. Các văn bản khác nhƣ Quy tắc Bắc Kinh (1985), hƣớng dẫn Riat (1990)… cũng đều thống nhất quan điểm quy định ngƣời chƣa thành niên, trẻ em là những ngƣời chƣa đến 18 tuổi. Trong khi đó, một số văn kiện của một số tổ chức thuộc Liên hiệp quốc nhƣ Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO) thì quy định trẻ em là những ngƣời dƣới 15 tuổi.
Ở Việt Nam, cũng chƣa có sự quy định thống nhất về lứa tuổi trẻ em và ngƣời chƣa thành niên. Theo Từ điển tiếng Việt thì “Vị thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi” 5 Cụ thể, trong “Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em” (được Quốc Hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 12 tháng 8 năm 1991) đã quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Luật Lao động quy định trẻ em là ngƣời dƣới 18 tuổi. Trong Bộ luật Hình sự đƣợc Quốc Hội khóa X kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 và đƣợc Chủ tịch Nƣớc ký lệnh số 01/L–CTN công bố ngày 04 tháng 01 năm 2000 theo quy định ở chƣơng X thì “người chưa thành niên là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi”.
Bộ Luật Dân sự năm 2005 cũng quy định “Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên. Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên” (Điều 18) Tóm lại, theo nghĩa chung nhất thì “Người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi”. Ngƣời chƣa thành niên chủ yếu đang độ tuổi trẻ em, cũng có ngƣời mới chuyển từ độ tuổi trẻ em sang ngƣời lớn. Ở chừng mực nhất định, khái niệm về trẻ em và ngƣời chƣa thành niên tƣơng đối thống nhất, trùng nhau ở độ tuổi dƣới 16.
Còn ngƣời chƣa thành niên bao gồm cả lứa tuổi trẻ em dƣới 16 tuổi và có thêm độ tuổi từ 16 đến dƣới 18 tuổi. Về sự phát triển tâm – sinh lý của con ngƣời thì số ngƣời từ 16 đến dƣới 18 tuổi về thể chất và tinh thần phát triển hoàn thiện hơn độ tuổi dƣới 16. Nhƣ vậy, ngƣời chƣa thành niên gồm cả những ngƣời còn non nớt phát triển chƣa đầy đủ, chƣa toàn diện và cả những ngƣời tuy đã phát triển nhƣng chƣa hoàn thiện về mọi mặt. Chính vì vậy, ở lứa tuổi này, Nhà nƣớc và xã hội cần quan tâm bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, tạo những điều kiện thuận lợi nhất để cho họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội.
Khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội “Người chưa thành niên phạm tội” là thuật ngữ sử dụng trong khoa học pháp luật hình sự và các khoa học gần gũi khác. Mặc dù Bộ Luật TTHS và Bộ Luật Hình sự đều có dành một “Chƣơng” riêng để quy định về ngƣời chƣa thành niên phạm tội, nhƣng lại không có khái niệm lập pháp chính thức thế nào là “Người chưa thành niên phạm tội”. Bộ Luật Hình sự năm 1985 cũng nhƣ Bộ Luật Hình sự năm 1999 khi nói tới ngƣời chƣa thành niên phạm tội chỉ đƣa ra một khái niệm gián tiếp thông qua việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. 6 Theo Điều 12 Bộ Luật Hình sự năm 1999 thì ngƣời từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
Theo Điều 68 Bộ Luật Hình sự năm 1999 cũng quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này.” Ở nƣớc ta, pháp luật hình sự quy định ngƣời từ đủ 14 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong độ tuổi này, ngƣời chƣa thành niên đã bắt đầu phát triển nhanh về tâm sinh lý. Họ đã có thể tự ý thức đƣợc hành vi của mình, ý thức đƣợc phần nào việc gì đúng pháp luật, việc gì là sai trái, bị pháp luật cấm. Thuật ngữ “Người chưa thành niên phạm tội” đề cập đến vấn đề vừa mang ý nghĩa về phƣơng diện đạo đức, pháp lý mà còn có ý nghĩa về phƣơng diện thực tế, thống kê.
Trong thực tế, còn nhiều tồn tại vƣớng mắc gây tranh cãi khi xác định một cá nhân có phải là ngƣời chƣa thành niên phạm tội hay không. Trƣớc hết, phải kể đến khó khăn vƣớng mắc trong việc xác định độ tuổi của một ngƣời khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong những trƣờng hợp không rõ ràng về ngày, tháng, năm sinh. Thứ hai, là khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội mà ngƣời chƣa thành niên thực hiện có phải là tội phạm hay không phải là tội phạm, vì rất khó phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác. Ví dụ: Tội trộm cắp tài sản, thì Khoản 1 Điều 138 Bộ Luật Hình sự năm 1999 quy định “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”.
Mặt khác, việc thống kê các vụ phạm tội của ngƣời chƣa thành niên vẫn còn nhiều bất cập, số lƣợng chƣa đầy đủ và chƣa chính xác bởi lẽ, các tội phạm do ngƣời chƣa thành niên thực hiện đƣợc phát hiện chỉ là một phần trong số rất nhiều vụ phạm pháp hình sự đã và đang xảy ra. 7 Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: “Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có năng lực trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ do sự hạn chế bởi các đặc điểm về tâm sinh lý và đã có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà Bộ Luật Hình sự quy định là phạm tội” [14] Đặc điểm ngƣời chƣa thành niên là ngƣời chƣa phát triển một cách đầy đủ về tâm sinh lý, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi còn nhiều hạn chế, dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo vào việc thực hiện tội phạm, nhƣng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ trở thành ngƣời có ích cho xã hội. Đƣờng lối xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc quy định tại chƣơng X của Bộ Luật Hình sự. Theo đó, việc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ, uốn nắn, sửa sai, giúp họ phát triển, hoàn thiện về nhận thức và về hành vi phù hợp với xã hội, không áp dụng hình phạt chung thân, tử hình, hình phạt bổ sung đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
Ở đây, cũng cần phân biệt khái niệm “Người chưa thành niên phạm tội” và khái niệm “tội phạm do người chưa thành niên gây ra” – “Người chưa thành niên phạm tội” dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt của tội phạm là ngƣời chƣa thành niên. – “Tội phạm do người chưa thành niên gây ra” dùng để chỉ tội phạm đã đƣợc thực hiện trên thực tế bởi ngƣời chƣa thành niên. Tội phạm do ngƣời chƣa thành niên gây ra bao giờ cũng gắn liền với một ngƣời chƣa thành niên có hành vi phạm tội cụ thể nhƣng không phải mọi trƣờng hợp một ngƣời chƣa thành niên thực hiện hành vi phạm tội đều trở thành tội phạm. Điều 68 Bộ Luật Hình sự quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo những quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của phần chung Bộ Luật không trái với quy định của Chương này”.
Theo Điều Luật trên, về nguyên tắc, khi giải quyết vấn đề trách nhiệm hình sự của ngƣời chƣa thành niên phạm tội phải căn cứ trƣớc hết vào các quy định của chƣơng X phần chung, đồng thời cũng phải vận dụng các quy định khác của Phần 8 chung Bộ Luật Hình sự nhƣ: Cơ sở pháp lý của trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý, các quy định về tội phạm, về hình phạt… nhƣng khi vận dụng các quy định đó thì không đƣợc trái với những quy định của chƣơng X Bộ Luật Hình sự này. Nhƣ vậy, theo điều luật này, thì pháp luật hình sự Việt Nam không buộc ngƣời dƣới 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà họ thực hiện có những dấu hiệu của tội phạm cụ thể đƣợc quy định trong Bộ Luật Hình sự. Những ngƣời trong lứa tuổi này nói chung không có năng lực trách nhiệm hình sự, họ chƣa có ý thức về hành vi phạm pháp.