Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.Khái quát về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa 1.Nhận diện hợp đồng mua bán hàng hóa 1.1 Khái niệm hợp đồng mua bánhàng hóa. Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hoá cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Hoạt động mua bán hàng hóa mang các dấu hiệu về chủ thể, đối tượng, mục đích,.Hình thức pháp lý của mua bán thực hiện thông qua việc ký kết và thực hiện các hợp đồng. Theo đó, HĐMB hàng hóa là sự thỏa thuận giữa bên mua và bên bán hàng hóa, bên mua và bên bán cùng nhau ký kết HĐMB hàng hóa để bên bán giao hàng và chuyển quyền sở hữu hàng hóa, còn bên mua thì có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán để nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa.
Mua bán hàng hóa bao gồm mua bán hàng hóa trong nước và mua bán hàng hóa quốc tế. Mua bán hàng hóa có đối tượng hiện hữu tại thời điểm mà các bên ký kết, thực hiện hợp đồng và cũng có HĐMB hàng hóa trong tương lại (HĐMB hàng hóa qua Sở giao dịch). Các loại hợp đồng có điểm tương đồng và có những điểm khác nhau về đối tượng, chủ thể, hình thức hợp đồng. Các quy định về hợp đồng được điều chỉnh bởi các nguồn luật khác nhau như Điều ước quốc tế, luật quốc gia, tập quán, thói quen, án lệ ,…Ví dụ Theo Điều 1 Phụ lục của Công ước La Haye 1964 [22] về “Luật thống nhất về thiết lập mua bán hàng hóa quốc tế các động sản hữu hình” thì HĐMB hàng hóa quốc tế là HĐMB hàng hóa được ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại đóng trên lãnh thổ các quốc gia khác nhau nếu có một trong các điều kiện sau: 6 Thứ nhất: hợp đồng liên quan đến vật mà trong thời gian ký kết hợp đồng vật đó được chuyên chở hoặc phải được chuyên chở từ lãnh thổ của quốc gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác; Thứ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng được thực hiện trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau; Thứ ba, việc giao hàng được thực hiện trên lãnh thổ của một quốc gia khác với quốc gia nơi tiến hành hành vi chào hàng hoặc hành vi chấp nhận chào hàng.
Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế còn được quy định tại Công ước Viên 1980 của Liên Hiệp quốc về HĐMB hàng hóa quốc tế. Công ước Viên 1980 mặc dù không đưa ra bất kỳ định nghĩa nào về HĐMB hàng hóa quốc tế, tuy nhiên, Công ước Viên quy định: Công ước này áp dụng cho các HĐMB hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau. Áp dụng trong hai trường hợp cụ thể là: 1) Khi các quốc gia này là thành viên của Công ước; 2) Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật áp dụng là luật của các nước thành viên công ước này. Ở Việt Nam, HĐMB hàng hóa quốc tế được biết đến trong nhiều văn bản với các tên gọi khác nhau như HĐMB ngoại thương (Quy chế tạm thời số 4794/TN-XNK ngày 31-7-1991 của Bộ Thương nghiệp- Bộ Công thương ngày nay), HĐMB hàng hóa với thương nhân nước ngoài (LTM Việt Nam năm 1997), hợp đồng xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa (LTM 2005).
Đặc điểm của hợp đồng mua bán hàng hóa Với tư cách là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hóa, HĐMB hàng hóa có những đặc điểm sau đây: * Về chủ thể của HĐMB hàng hóa Chủ thể của HĐMB hàng hóa được thiết lập chủ yếu giữa các thương nhân.Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Như vậy, chủ thể của HĐMB hàng hóa gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài. Chủ thể trong quan hệ HĐMB hàng hóa ít nhất một bên phải là thương nhân, bên còn lại có thể không có tư cách thương nhân. Chủ thể của hợp đồng là một trong các điều kiện để 7 xác định HĐMB hàng hóa có hiệu lực pháp luật.
Người ký kết hợp đồng không đúng thẩm quyền sẽ dẫn đến hợp đồng bị vô hiệu. * Về hình thức của HĐMB hàng hóa Hình thức của hợp đồng MBHH có thể do các bên lựa chọn hoặc theo quy định của pháp luật. HĐMB hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại HĐMB hàng hóa mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.
Như vậy, về hình thức, HĐMB hàng hóa có thể được thiết lập theo cách thức mà hai bên thể hiện được sự thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa giữa các bên. Pháp luật cho phép các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau những điều khoản không trái với quy định của pháp luật. So với Pháp lệnh hợp đồng kinh tế năm 1989 thì đây là một sự tiến bộ, theo hướng có lợi hơn cho các chủ thể tham gia hợp đồng, bởi Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế quy định, hợp đồng kinh tế (bao gồm cả HĐMB hàng hóa) chỉ được thực hiện bằng hình thức duy nhất là văn bản. Đối với HĐMB hàng hóa quốc tế, pháp luật một số nước trên thế giới và một số điều ước quốc tế như Công ước Rome 1980 về áp dụng luật đối với nghĩa vụ hợp đồng, pháp luật Việt Nam và các Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với nước ngoài đều không đưa ra một quy định riêng.
Các nước đều có những quy định đòi hỏi HĐMB hàng hóa quốc tế chỉ hợp pháp khi thỏa mãn các điều kiện nhất định như hợp đồng phải được ký kết dưới hình thức văn bản (hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương), lời nói hay hành vi nhất định. Đối với hình thức của hợp HĐMB hàng hóa quốc tế, một số quy định không mang tính bắt buộc mà mang tính lựa chọn. Quy định chỉ rõ không yêu cầu các bên phải ký, xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ bất kỳ yêu cầu nào về mặt hình thức của hợp đồng, nghĩa là không quy định bắt buộc về hình thức của HĐMB hàng hóa quốc tế. Các bên có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng, tuy nhiên các quy định tại Công ước Viên cũng cho thấy rằng, nếu nước thành viên mà trong pháp luật của nước đó đòi hỏi hợp đồng 8 phải được ký kết hoặc phê chuẩn dưới hình thức văn bản thì điều quy định này của pháp luật nước thành viên đó phải được tôn trọng.2 PICC (nguyên tắc không bắt buộc về hình thức của hợp đồng - No Form Required), việc giao kết HĐMB hàng hóa quốc tế không đòi hỏi phải tuân theo bất kỳ điều kiện nào về hình thức.
Tuy nhiên, theo Điều 1.4 của PICC về những quy phạm bắt buộc - Mandatory Rules thì “Bộ nguyên tắc này không hạn chế những quy phạm bắt buộc, có nguồn gốc quốc gia, quốc tế phù hợp với các quy phạm có liên quan của tư pháp quốc tế”, tức là nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng có thể bị hạn chế bởi các quy định của pháp luật quốc gia hoặc pháp luật quốc tế. Theo đó, nếu trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế có liên quan bắt buộc hình thức của HĐMB hàng hóa quốc tế phải được xác lập bằng văn bản thì các bên sẽ phải tuân theo quy định này. Pháp luật Việt Nam quy định hình thức của HĐMB hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong đó, hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp pháp luật Việt Nam quy định ngoài việc HĐMB hàng hóa quốc tế phải được lập thành văn bản thì còn phải được đăng ký, phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới có hiệu lực, ví dụ như đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sở hữu công nghiệp có yếu tố nước ngoài thì phải được sự phê duyệt của Bộ Khoa học và Công nghệ; ngoài ra HĐMB hàng hóa qua sở giao dịch hàng hóa thì hình thức của hợp đồng cũng bắt buộc phải bằng văn bản. * Về đối tượng của HĐMB hàng hóa HĐMB hàng hóa có đối tượng là hàng hóa. Hàng hóa bao gồm: a) tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; b) những vật gắn liền với đất đai. Với cách hiểu như vậy, hàng hóa là đối tượng của HĐMB hàng hóa có thể là hàng hóa hiện đang tồn tại, hiện hữu hoặc hàng hóa sẽ có trong tương lai; hàng hóa có thể là động sản hoặc bất động sản được phép lưu thông trong thương mại.
So với quy định của LTM 1997 thì đối tượng của hợp đồng đã được mở rộng hơn. Không dừng lại ở việc liệt kê các loại hàng hóa là đối tượng của hợp đồng, LTM 2005 quy định theo 9 hướng ngày càng mở rộng đối tượng của HĐMB hàng hóa cho phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước. Liên quan đến việc quy định hàng hóa là đối tượng của HĐMB hàng hóa, pháp luật của các quốc gia cũng như các điều ước có các quy định khác nhau phù hợp với pháp luật cũng như tập quán của mỗi nước.Tuy nhiên, tất cả đều có xu hướng mở rộng các đối tượng là hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại. Ở nước ta, ngoài quy định về các loại hàng hóa được lưu thông trong thương mại nêu trên, Chính phủ ban hành cụ thể danh mục hàng hóa cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và điều kiện để kinh doanh các loại hàng hóa này.