Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄNVỀ QUẢN LÝ GIẢM NGHÈO CHO HỘ NÔNG DÂN 1. Cơ sở lý luận về nghèo, giảm nghèo và quản lý giảm nghèo cho hộ nông dân 1. Một số khái niệm về quản lý nhà nước đối với giảm nghèo 1. Khái niệm về nghèo Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc (UN) là: "Người nghèo là người có thu nhập dưới đường ranh giới nghèo, được xác định bằng số tiền cho nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, mà trước mắt là lương thực, thực phẩm để duy trì sự sống với mức tiêu dùng nhiệt lượng 2100 - 2300 Kalo/người/ ngày".
[36] Tại hội nghị về chống nghèo đói do uỷ ban kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao và cho rằng: "Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận". [3] Theo khái niệm này không có chuẩn nghèo chung cho mọi quốc gia, chuẩn nghèo cao hay thấp phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia và nó thay đổi theo thời gian và không gian. Chuẩn nghèo là thước đo để phân biệt ai nghèo, ai không nghèo từ đó có chính sách biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng. Có thể xem đây là khái niệm chung nhất về đói nghèo, một khái niệm có tính chất hướng dẫn về phương pháp đánh giá, nhận diện nét chính yếu, phổ quát về đói nghèo.
Các tiêu chí và chuẩn mực đánh giá còn tính đến sự khác biệt giữa các vùng, các điều kiện lịch sử cụ thể quy định trình độ phát triển ở mỗi quốc gia. Chuẩn nghèo áp dụng tại Việt Nam Ngày 19/11 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 59/2015/QĐ- TTg về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020. Quyết định quy rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho 6 giai đoạn 2016-2020; chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016-2020. Cụ thể, các tiêu chí sau để xác định mức chuẩn nghèo như sau: Các Tiêu chí về thu nhập: - Chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị.
- Chuẩn cận nghèo: 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Chuẩn mức sống tối thiểu: từ 1.3 triệu đồng/người/tháng trở xuống ở thành thị và 1 triệu đồng/người/tháng tại nông thôn. - Chuẩn nghèo chính sách: từ 1 triệu đồng/người/tháng trở xuống tại thành thị và 800.000 đồng/người/ tháng tại nông thôn.
- Chuẩn mức sống trung bình: từ 1.95 triệu đồng/người/tháng trở xuống và 1.5 triệu đồng/người/tháng ở nông thôn. - Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin. - Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt bao gồm: trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Ngưỡng thiếu hụt đa chiều đối với một hộ gia đình là từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
7 Dựa vào 2 tiêu chí trên để xác định mức chuẩn nghèo: - Hộ nghèo: là hộ đáp ứng 1 trong 2 tiêu chí sau: + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ chuẩn nghèo chính sách trở xuống. + Có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. - Hộ cận nghèo: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách đến chuẩn mức sống tối thiểu, và dưới 1/3 tổng số điểm thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. - Hộ chưa tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu và từ 1/3 tổng điểm thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
- Hộ có mức sống dưới trung bình: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ dưới chuẩn mức sống trung bình và cao hơn chuẩn mức sống tối thiểu. Xác định mức chuẩn nghèo trên để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội, làm cơ sở hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội trong giai đoạn 2016 - 2020. Các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016- 2020 1. Quy trình rà soát, xác định hộ nghèo Trong bối cảnh nghèo đói diễn ra phổ biến và việc xác định ai là người nghèo thực sự có thể được xem là một thách thức lớn đối với mọi quốc gia trên thế giới.
Báo cáo “Les critères et les processus d’identification des pauvres en tant que bénéficiaires de programmes dans les pays en développement” của nhóm các tác giả Florence Morestin, Patricia Grant & Valéry Ridde- Trường Đại học Tổng hợp Montréal, Canada, 2009, đã đề cập đến quy trình xác định người nghèo/hộ nghèo bao gồm: (i) Quy trình xác lập các tiêu chí xác định người nghèo/hộ nghèo; và (ii) Xác định các tiêu chí được sử dụng xác định người nghèo/hộ nghèo; Quy trình xác lập các tiêu chí xác định người nghèo/hộ nghèo Quy trình xác lập các tiêu chí xác định hộ nghèo bao gồm: - Quy trình hành chính: Đây là quy trình được thực hiện trực tiếp bởi các các cơ quan/đơn vị (có thể là Chính phủ hoặc một Bộ/ngành hoặc cũng có thể là một tổ 8 chức phi chính phủ) quản lý các chương trình dành cho người nghèo. Các cơ quan/đơn vị quản lý nghiên cứu xác lập bộ tiêu chí đánh giá xác định người nghèo/hộ nghèo. Ví dụ, tại Ấn Độ, các tiêu chí xác định hộ nghèo được một nhóm chuyên gia xây dựng và đề xuất Chính phủ ban hành. - Quy trình cộng đồng: Một số quốc gia sử dụng quy trình xác lập các tiêu chí xác định hộ nghèo có sự tham gia của cộng đồng.
Vì vậy các tiêu chí xác định hộ nghèo được xây dựng trong quá trình tham vấn ý kiến của người dân. Ví dụ, để xây dựng các tiêu chí xác định hộ nghèo, người ta đã tổ chức các cuộc thảo luận với nhóm người dân (tại Bangladesh), hoặc thực hiện nhiều phương pháp khác nhau như thảo luận nhóm người dân, phỏng vấn sâu, điều tra hộ gia đình,. - Quy trình tổng hợp: Đây là quy trình xác lập các tiêu chí xác định người nghèo có sự kết hợp giữa quy trình hành chính và quy trình cộng đồng. Xác định các tiêu chí được sử dụng để xác định người nghèo/hộ nghèo Theo xu hướng phát triển chung trên thế giới, vấn đề bảo đảm an sinh xã hội, phát triển bền vững ngày càng được các quốc gia chú trọng quan tâm.
Đặc biệt, vấn đề nghèo đói không chỉ được nhìn nhận ở khía cạnh nghèo đói về tiền (chủ yếu quan tâm đến thu nhập và chi tiêu) như trước kia nữa, mà giờ đây nghèo đói được nhìn nhận theo nghĩa rộng hơn, theo nhiều chiều cạnh khác nhau liên quan đến cuộc sống con người như: điều kiện sống, an ninh lương thực, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, sở hữu tài sản và công cụ sản xuất, tình trạng phát triển kinh tế - xã hội… Xuất phát từ quan điểm nhìn nhận vấn đề nghèo đói theo khía cạnh nghèo đói đa chiều, các quốc gia đang phát triển đã sử dụng 261 tiêu chí đánh giá xác định hộ nghèo, được phân chia thành 11 nhóm chỉ tiêu đo lường. Cụ thể: - Sở hữu tài sản và phương tiện sản xuất; - Thành phần gia đình; - Thu nhập; - Điều kiện nhà ở; - Nghề nghiệp; - An ninh lương thực; - Tình trạng sức khỏe; - Giáo dục; - Tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản và tín dụng; 9 - Chi tiêu; - Thể hiện bề ngoài về thể chất và quần áo. Theo Thông tư số 17/2016/TT-BLĐTBXH, ban hành ngày 28 tháng 6 năm 2016 thì hộ nghèo và cận nghèo được rà soát thường xuyên và định kỳ hàng năm. Cụ thể, quy trình rà soát thường xuyên và định kỳ được hướng dẫn như sau: Quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo thường xuyên Quy trình rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh trong năm Đối với trường hợp hộ gia đình trên địa bàn phát sinh khó khăn đột xuất trong năm cần được xét duyệt, bổ sung vào danh sách hộ nghèo, hộ cận nghèo để có thể tiếp cận được với các chính sách hỗ trợ giảm nghèo của Nhà nước, thực hiện theo quy trình sau: Hộ gia đình có giấy đề nghị trưởng thôn xác nhận và nộp trực tiếp hoặc gửi qua bưu điện đến Ủy ban nhân dân cấp xã tiếp nhận, xử lý (theo Phụ lục số 1a ban hành kèm theo Thông tư này); Ủy ban nhân dân cấp xã chỉ đạo Ban giảm nghèo cấp xã tổ chức thẩm định theo quy trình rà soát hộ gia đình có khả năng rơi xuống nghèo, cận nghèo theo quy định tại Điều 6 Thông tư này; báo cáo kết quả thẩm định và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã quyết định công nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo phát sinh.
Thời gian thẩm định, xét duyệt và ban hành Quyết định công nhận bổ sung không quá 07 ngày làm việc kể từ khi tiếp nhận giấy đề nghị của hộ gia đình.