CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Phát triển và phát triển sản xuất 1.Khái niệm về phát triển Khái niệm về phát triển đã được các nhà khoa học nghiên cứu từ lâu và đưa ra những khái niệm khác nhau như: Theo Ngân hàng thế giới nghiên cứu thì Phát triển là sự tăng trưởng về kinh tế, bao gồm những thuộc tính liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, tự do về chính trị và các quyền tự do của con người Theo Phạm Vân Đình và Đỗ Kim Chung nghiên cứu thì đưa ra phát triển là sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu của nền kinh tế, sự tăng lên của sản phẩm quốc dân do ngành công nghiệp tạo ra, sự đô thị hóa, sự tham gia của các dân tộc của một quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi Như vậy có thể thấy thông qua nhiều nghiên cứu thì hiểu sự phát triển được hình thành bởi nhiều yếu tố, nó là một quá trình thay đổi phức tạp của tập hợp các phạm trù: vật chất, tinh thần, sống, niềm tin, các quan hệ xã hội khác… Phát triển cũng được hiểu là đáp ứng nhu cầu hiện tại, nhưng để đảm bảo phát triển bền vững thì phát triển hiện tại phải không làm tổn thương đến nhu cầu phát triển của tương lai. Do đó trên thế giới hiện nay đã xuất hiện khái niệm mới về phát triển, là “phát triển bền vững”. Năm 1987, trong báo cáo “Tương lai chung của chúng ta" của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, phát triển bền vững được định nghĩa “là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau" Hiện nay, mọi quốc gia đều nhấn mạnh mục tiêu phát triển và trải qua thời gian, khái niệm về phát triển cũng đã đi đến thống nhất: “Phát triển kinh 6 tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nên kinh tế trong một thời kỳ nhất định.
Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội. Đó là sự tiến bộ về cuộc sống tốt đẹp hơn Phát triển bên cạnh tăng thu nhập bình quân đầu người, mà còn bao gồm cả các khía cạnh như nâng cao phúc lợi nhân dân, nâng cao các tiêu chuẩn sống, cải thiện giáo dục, cải thiện sức khoẻ và đảm bảo sự bình đẳng cũng như quyền công dân. Phát triển còn là sự tăng bền vững về các tiêu chuẩn sống, bảo gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường. Phát triển là những thuộc tính quan trọng và liên quan khác, đặc biệt là sự bình đẳng về cơ hội, sự tự do về chính trị và quyền tự do công dân của con người (Nguyễn Công Tiệp, 2011).
Khái niệm sản xuất Sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào để tạo ra sản phẩm đầu ra. Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Hay sản xuất là quá trình tác động của con người vào các đối tượng sản xuất, thông qua các hoạt động để tạo ra các sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phục vụ đời sống con người. Sản xuất là quá trình phối hợp và điều hòa các yếu tố đầu vào (tài nguyên hoặc các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra).
Đầu vào của sản xuất bao gồm các yếu tố như lao động, đất đai, máy móc, nguyên vật liệu. Các yếu tố tác động qua lại với nhau. Còn đầu ra là kết quả của quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như sản phẩm na Mối qua hệ giữa đầu vào và đầu ra được thể hiện Việc sử dụng các yếu tố đầu vào, đầu ra hợp lý, tuân theo quy luật mới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Như vậy trong quá trình sản xuất ta cần chú ý đến mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra để kịp thời tác động đến các yếu tố này nhằm nâng cao hiệu quả và năng suất sản phẩm được tạo ra (Nguyễn Công Tiệp, 2011).
Phát triển sản xuất Phát triển sản xuất là một quá trình lớn lên về mọi mặt của quá trình sản xuất trong một thời kì nhất định. Trong đó sẽ bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng hay giá trị sản phẩm hàng hóa dịch vụ và sự tiến bộ về mặt cơ cấu các mặt hàng. Phát triển sản xuất bao gồm: Phát triển sản xuất theo chiều rộng và phát triển sản xuất theo chiều sâu. + Phát triển sản xuất theo chiều rộng: tức là huy động mọi nguồn lực vào sản xuất như tăng diện tích, tăng thêm vốn, bổ sung thêm lao động và kỹ thuật mới, mở mang thêm nhiều ngành nghề, xây dựng thêm những xí nghiệp tạo ra những mặt hàng mới.
+ Phát triển sản xuất theo chiều sâu: nghĩa là xác định cơ cấu đầu tư, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu loại hình hợp lý, đẩy mạnh áp dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nâng cao trình độ sử dụng các nguồn lực Phát triển sản xuất theo chiều rộng và chiều sâu là yêu cầu chung của bất kì nền kinh tế hay một doanh nghiệp nào. Nhưng ở mỗi nước, mỗi doanh nghiệp, mỗi thời kì, sự kết hợp này có sự khác nhau. Theo quy luật chung của các nước cũng như của các doanh nghiệp là thời kì đầu của sự phát triển thường tập trung để phát triển theo chiều rộng, sau đó tích luỹ thì chủ yếu phát triển theo chiều sâu. Do sự khan hiếm nguồn lực làm hạn chế sự phát triển theo chiều rộng.
Sự khan hiếm này ngày càng trở nên khốc liệt trong điều kiện cạnh tranh do nhu cầu của xã hội và thị trường; do sự cần thiết xây dựng, đổi mới và hiện đại hoá cơ sở vật chất kỹ thuật của nền sản xuất xã hội hoặc của doanh nghiệp. Muốn vậy, phải phát triển kinh tế theo chiều sâu thì mới có thể tích luỹ vốn. Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển và phát triển sản xuất Phát triển và phát triển sản xuất bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau 8 - Yếu tố vốn sản xuất: Là những tư liệu sản xuất như máy móc, nhà xưởng, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyên vật liệu… được sử dụng vào sản xuất. - Yếu tố lực lượng lao động: Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng trong quá trình sản xuất.
Mọi hoạt động sản xuất đều do con người quyết định. Lực lượng lao động có trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất sẽ có vai trò quyết định nâng cao năng suất lao động. Do đó, chất lượng sức lao động quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất. - Yếu tố tài nguyên thiên nhiên: là các tài nguyên đất đai, nguồn nước, khoáng sản…, trong đó tài nguyên đất là quan trọng nhất.
Với bất kì nền sản xuất nào thì đất đai là yếu tố vô cùng quan trọng không thể thiếu được, nó là nền tảng, tài sản đặc biệt tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Vì vậy, đất đai quyết định sản xuất có diễn ra hay không. - Yếu tố trình độ khoa học công nghệ và các chủ trương chính sách của nhà nước cũng ảnh hưởng khá lớn đến quá trình sản xuất. Đây chính là kết quả của việc ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ về tiến bộ kỹ thuật, quản lý kinh tế, xã hội và môi trường.
Ta thấy trong quá trình sản xuất khi các yếu tố đầu vào thay đổi về chất hay nói cách khác khi các đơn vị sản xuất đổi mới thiết bị, áp dụng tiến bộ kỹ thuật hiện đại, sử dụng các nguồn lực khác nhau thì tất quá trình sản xuất sẽ dịch chuyển, thay đổi và đầu ra sẽ lớn hơn. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển và phát triển sản xuất sẽ có tác động qua lại, rằng buộc với nhau để tạo ra quá trình phát triển sản xuất hoàn thiện, hiệu quả và bền vững (Lã Tuấn Nam, 2013). Đặc điểm của cây na - Đặc tính của nai Na ưa đất thoáng, không nên trồng ở đất thấp úng. Na là cây trồng chịu được đất cát xấu nhưng chỉ phát huy được ưu điểm nếu đất nhiều màu, nếu không bón phân thì cây trồng sẽ nhanh già, quả rất nhiều hạt, ít thịt.
Vì 9 vậy phải chăm sóc cây từ khi trồng để cây được khỏe mạnh, nhiều nhựa thì mới cho trái ngon (Việt Hùng, 2009). Cây trồng na chống úng kém nhưng chống hạn rất tốt. Cây thường rụng hết lá khi gặp mùa khô, mùa mưa trở lại thì lại ra lá ra hoa. Thường thì lứa na đầu tiên hoa sẽ rụng nhiều, sau đó bộ lá đã khỏe, quang hợp tốt thì đậu quả.
Những lứa hoa cuối, vào tháng 7 - 8 cũng rụng nhiều; quả đậu được cũng nhỏ vì vậy na dai thuộc loại trái có mùa không như chuối, dứa, đu đủ. Cũng do nhịp độ sinh trưởng như vậy, na không cần tưới. Tuy vậy, nếu ta thường tưới, chăm bón cho cây trồng thì mùa ra trái kéo dài hơn (Việt Hùng, 2009). Na tương đối chịu rét.
Mùa đông cây trồng ngừng sinh trưởng và sẽ rụng hết lá. Đến mùa xuân ấm áp cây na lại ra đợt lá mới, nhờ đó na dai không những trồng được ở miền Bắc mà còn ở Nam Trung Quốc, Đài Loan. Về hình thái quả na: Quả na có hình tim, cuống hơi lõm, có đường kính 80 – 95cm, trọng lượng trung bình 150 – 300g. Đặc biệt có quả có thể lên tới 700g.
Thịt quả mềm màu trắng sữa, biểu hiện khi sắp chín thì mắt na màu trắng hoặc màu hồng phấn, khe giữa các mắt na mở to, có mùi thơm hấp dẫn, mã quả đẹp, màu sắc và hình dáng đẹp. Cây na thường thu hoạch vào tháng 6 đến cuối tháng 8 âm lịch (Việt Hùng, 2009). - Trồng và chăm sóc na dai Khi phải đánh bầu, đi trồng. Nếu ương cây giống bằng cách gieo hạt ở trong bầu nên đợi tới khi cây khoảng 1 năm tuổi cao khoảng 40 - 50 cm đem trồng thì dễ sống hơn.
Ở đất cát ven biển đất xấu, người ta thường trồng quá dày và thường không bón phân do đó trái bé, hạt nhiều. Nên trồng với khoảng cách 4m ở đất xấu, 5m ở đất tốt kết hợp chăm bón để trái to, cơm nhiều. 10 Thời vụ trồng: đầu mùa xuân và có thể kéo dài đến tháng 8, 9.