Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo đa chiều theo tiêu chí nghèo đa chiều 1. Lý luận về nghèo 1. Khái niệm nghèo Trên thế giới có nhiều khái niệm khách nhau về nghèo, thường được nhắc đến là “nghèo tuyệt đối” và “nghèo tương đối”.
“Theo nghĩa tuyệt đối,, nghèo khổ là một trạng thái mà các tác nhân thiếu những nguồn lực thiết yếu để có thể tồn tại”. “Theo nghĩa tương đối, là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét:. Những định nghĩa về nghèo đói được thay đổi nhiều lần theo thời gian và không gian khác nhau. Bởi ranh giới của nghèo đói là không được hưởng hoặc được hưởng rất ít và không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2003).
Do vậy để đánh giá đúng mức độ của nghèo đói, thế giới thường dùng khái nhiệm “nghèo khổ” và nhận định nghèo khổ theo 4 khía cạnh sau: Về thời gian: Phần lớn người nghèo khổ là những người sống dưới mức “chuẩn” trong suốt một thời gian dài để phân biệt với số người nghèo khổ “tình thế” như những người thất nghiệp, hoặc do khủng hoảng kinh tế, thiên tai, chiến tranh, tệ nạn xã hội, rủi ro. Về không gian: về mặt này thì nghèo đói diễn ra chủ yếu ở khu vực nông thôn, miền núi, nơi có nhiều người sinh sống. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 Về giới: theo thống kê thì những người nghèo đói là phụ nữ đông hơn là nam giới. Trong những hộ nghèo nhất thì đa phần là do người phụ nữ là chủ hộ hay chủ gia đình, còn trong những hộ nghèo đó do người đàn ông làm chủ hộ thì người phụ nữ lại khổ hơn nam giới.
Về môi trường: đối với những nước ở vùng sinh thái khắc nghiệt thì tỷ lệ người nghèo khá đông, ở những nước này tình trạng nghèo đói và sự xuống cấp về môi trường sinh thái ngày một trầm trọng thêm (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2007). Cho đến nay, khái niệm về nghèo đói chưa hề có sự thay đổi, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, tuy nhiên nhiều quan niệm về nghèo đói hiện đang được các quốc gia thừa nhận; Theo Liên hợp quốc (UN): “Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa là không an toàn, không có quyền, và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.
Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội hoặc trong các điều kiện rủi ro, không được tiếp cận nước sạch và công trình vệ sinh an toàn” (Tuyên bố Liên hợp quốc,6/2008, được lãnh đạo của tất cả các tổ chức UN thông qua). Tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cho rằng “Nghèo đói là tình trạng của một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và phong tục ấy được xã hội thừa nhận”. Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 Copenhagen Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Nghèo đói là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới 1 USD mỗi ngày cho một người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại”. Tuy vậy, cũng có quan niệm khác về nghèo đói mang tính kinh điển hơn, triết lý hơn của chuyên gia hàng đầu của tổ chức lao động quóc tế (ILO) ông Abaplaen, người dược giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1997 cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng”.
Xét cho cùng sự tồn tại của con người nói chung và người giàu, người nghèo nói riêng sự khác nhau để phân biệt giữa họ chính là cơ hội lựa chọn của mỗi người trong cuộc sống và thông thường người giàu có cơ hội lựa chọn nhiều hơn người nghèo. Dựa trên những quan niệm về nghèo đói của các cá nhân và tổ chức trên thế giới, Việt Nam đã đưa ra các khái niệm cụ thể và được nghiên cứu ở mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghèo, đói là tình trạng của một bộ phận cư dân nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là n hững hộ thiếu ăn từ 1 đến 2 tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả cho cộng đồng.
Đói là thang thấp nhất của nghèo, đói thuần túy là đói ăn, đói nằm trọng trong phạm trì kinh tế vật chất và khác với đói thông tin, đói thưởng thụ văn hóa, thuộc phạm trù văn hóa tinh thần. Đói cũng có hai dạng là đói kinh niêm và đói cấp tính (đói gay gắt): Đói kinh niêm là một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro tại thời điểm đang xét, Đói cấp tính là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng đói đột xuất do nhiều nguyên nhân như gặp tai nạn, thiên tai, rủi ro khác tại thời điểm đang xét. Qua đây có thể thấy được các quan niệm về nghèo đói nêu trên phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 Không được hưởng những nhu cầu cơ bản nhất ở mức độ tối thiểu dành cho con người. Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
Thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng. Chuẩn mực xác định nghèo đói a. Chuẩn mực xác định nghèo đói trên thế giới Hiện nay, Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra các chỉ tiêu đánh giá mức độ giàu nghèo của các quốc gia dựa vào thu nhập quốc dân bình quân tính theo đầu người trong một năm với hai cách tính đó là: Phương pháp Atlas tức là tính theo tỉ giá hối đoái và tính theo USD. Phương pháp PPP (Purchasing power parity) là phương pháp tính theo sức mua tương đương và cũng tính bằng USD.
Theo phương pháp Atlas, năm 1990 người ta chia mức bình quân của các nước trên toàn thế giới làm 6 loại: - Trên 25.000 USD/người/năm là nước cực giàu.000 USD/người/năm là nước giàu.000USD/người/năm là nước khá giàu.000 USD/người/năm là nước trung bình. - Từ 500 đến dưới 2.500 USD/người/năm là nước nghèo. - Dưới 500USSD/người/năm là nước cực nghèo. Cũng theo quan niệm trên Ngân hàng thế giới đưa ra kiến nghị thang nghèo đói như sau: - Đối với các nước nghèo: Các cá nhân bị coi là nghèo khi mà có thu nhập dưới 0.
- Đối với các nước đang phát triển là 1 USD/ngày - Các nước thuộc châu Mỹ La Tinh và Caribe là 2 USD/ngày. - Các nước Đông Âu là 4 USD/ngày - Các nước công nghiệp phát triển là 14,4USD/ngày. Vì vậy, các quốc gia đều tự đưa ra chuẩn của riêng nước mình thông thường thấp hơn thang nghèo đói mà Ngân hàng thế giới đưa ra. Ví dụ như Mỹ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 đưa ra chuẩn nghèo là mức thu nhập dưới 16.000 Kcal đối với một hộ gia đình chuẩn (gia đình 4 người) trong một năm tương đương với 11,1USSD/ngày/người.
Nhưng cần thấy rằng, ngoài thu nhập nghèo đói còn chịu tác động của nhiều yếu tố khác như văn hóa, chính trị, xã hội, sức khỏe, trình độ… Vì vậy, để đánh giá vấn đề nghèo đói, bên cạnh tiêu chí thu nhập quốc gia bình quân, UBDP còn đưa ra chỉ số phát triển con người HDI bao gồm hệ thống 3 chỉ tiêu: tuổi thọ, tình trạng biết chữ của người lớn và thu nhập bình quân đầu người trong năm. Đây là chỉ tiêu cho phép đánh giá đầy đủ và toàn diện về sự phát triển và trình độ văn minh của mỗi quốc gia, nhìn nhận nước giàu nghèo tương đối chính xác và khách quan (Dự án công tác xóa đói giảm nghèo, 2004). Chuẩn mực xác định nghèo đói theo thu nhập ở Việt Nam Bảng 1. Quy định về chuẩn nghèo đói theo thu nhập (theo tiêu chuẩn quốc gia) Chuẩn nghèo đói Phân loại Mức thu nhập qua các giai đoạn người nghèo đói bình quân/người/tháng Đói (KV nông thôn) Dưới 8Kg 1993 - 1995 (Mức thu nhập Đói (KV thành thị) Dưới 13Kg bình quân quy ra gạo) Nghèo (KV nông thôn) Dưới 15Kg Nghèo (KV thành thị) Dưới 20Kg Đói (tính cho mọi khu vực) Dưới 13Kg (45.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, 1996 - 2000 (Mức thu Dưới 15Kg (55.000 đồng) miền núi, hải đảo) nhập quy ra gạo tương Nghèo (KV nông thôn, đương với số tiền) Dưới 20Kg (70.000 đồng) đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 25Kg (90.000 đồng) Nghèo (KV nông thôn, Dưới 80.000 đồng miền núi, hải đảo) 2001 - 2005 (mức thu Nghèo (KV nông thôn, nhập tính bằng tiền) Dưới 100.000 đồng đồng bằng trung du) Nghèo (KV thành thị) Dưới 150.000 đồng nhập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 260.000 đồng Nghèo (KV nông thôn) Dưới 400.000 đồng nhập tính bằng tiền) Cận nghèo (KV nông thôn) 401.000 đồng Cận nghèo (KV thành thị) 501.000 đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 thập tính bằng tiền) Nghèo (KV thành thị) Dưới 900.000 đồng Cận nghèo (KV nông thôn) Trên 700.000 đồng Cận nghèo (KV thành thị) Trên 900.000 đồng Nguồn: Bộ LĐ-TB và XH (2015)[6]; Chương trình mục tiêu quốc gia về XĐGN và Quyết định số 170/2005/QĐ-TT; Quyết định số 59/2015 TTg) * Tiêu chí xác định xã nghèo: Năm 2002, Bộ Thương binh và xã hội có Quyết định số 587/2002/QĐ- BLĐTBXH quy định xã nghèo (ngoài chương trình 135) là xã có đầy đủ tiêu chí sau: Có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên.
Chưa có đủ 3 trong 6 hạng mục cơ sở hạ tầng thiết yếu, cụ thể như sau: - Dưới 30% số hộ được sử dụng nước sạch. - Dưới 50% số hộ được sử dụng điện sinh hoạt.