Chương 1 là chương nền tảng, chương 2 làm rõ biểu hiện nội dung, chương 3 khám phá biểu hiện nghệ thuật. Sự phân chia này nhằm giúp luận văn hệ thống, mạch lạc, chứ thực chất, trong quá trình triển khai, chúng tôi vận dụng, kết hợp các vấn đề với nhau để đề tài Giá trị nhân văn hiện thực trong Di cảo thơ của Chế Lan Viên được nghiên cứu hiệu quả và khả thi nhất. GIỚI THUYẾT VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN HIỆN THỰC 1. Giá trị nhân văn 1.
Cơ sở của giá trị nhân văn Chủ nghĩa nhân văn ra đời ở Ý vào thời Phục hưng (thế kỉ XIV – XV) rồi dần tỏa ảnh hưởng sang các nước khác như Pháp, Đức, Anh. Thời Phục hưng manh nha hình thành khi thời Trung cổ đang lụi tàn và xã hội tư bản dần định hình. Mối hòa hợp xã hội rạn nứt, cái xấu ác lan tràn đẩy tình trạng bất ổn xã hội và tuột dốc nhân tính tăng cao. Từ đây, các nhà nhân văn chủ nghĩa phản ánh và khái quát vào tác phẩm những hiện tượng phức tạp của đời sống.
Phản ánh đồng thời là đấu tranh, phản kháng với thực tại đen tối đương thời. Thực chất, văn học tiến bộ thời Trung cổ cũng đã phê phán nhà thờ, tầng lớp quí tộc. nhưng sự lên án ấy không thâu tóm toàn diện tinh thần của bức tranh hiện thực với những mâu thuẫn nội tại phức tạp. Khả năng phản ánh của văn học Trung cổ rất hạn chế, vì xét cho cùng, những nhà văn thời này vẫn bị hệ tư tưởng nhà thờ trói buộc năng-lực-Người bởi ranh giới đẳng cấp của nó.
Giai cấp tư sản ra đời với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đặc thù đã vấp phải trở ngại lớn là chế độ phong kiến và Giáo hội La Mã. Đạo Thiên Chúa là hệ tư tưởng thống trị cùng với cơ chế chuyên chính là chính quyền phong kiến, Giáo hội, Tòa án tôn giáo, Thần học, chủ nghĩa ngu dân, chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa khổ hạnh. khẳng định rằng chỉ tồn tại niềm hạnh phúc thuần túy tinh thần ở thiên đường. Muốn hạnh phúc, con người khi sống phải nhẫn nhục, cam chịu, sám hối, chuộc tội, cầu nguyện.
thì sau khi chết mới đạt tới cõi vĩnh hằng hoàn mĩ. Như vậy, Chúa Trời và Kinh Thánh là ngọn nguồn của mọi tri thức. Chủ nghĩa nhân văn ra đời đóng vai trò phản ứng, lên án hệ tư tưởng phản động đó. Có thể nói, đây là một trong những cuộc đảo lộn tiến bộ nhất từ trước đến nay chưa từng thấy của nhân loại trong lĩnh vực tư tưởng, thế giới quan, nhân sinh quan.
Những nhà nhân văn chủ nghĩa ý thức được rằng chiến tranh phong kiến, chủ nghĩa khổ hạnh tôn giáo, chủ nghĩa cấm dục, chủ nghĩa giáo điều, kinh viện, ngu dân, thói đàn áp tự do tư tưởng. là trái với tự nhiên, là nguồn gốc của mọi bất hạnh, xấu xa, tội lỗi gây ra rối loạn xã hội. 11 Bên cạnh đó, hàng loạt phát kiến địa lí vĩ đại của Côlông, Váxcô đờ Gama. cùng những phát minh trong lĩnh vực sản xuất và văn hóa (thuốc súng, phương pháp luyện kim mới, máy in.) đã nảy sinh cách nhìn mới về thực tại.
Thay đổi trong các lĩnh vực đời sống xã hội mở ra bước ngoặt trong hệ tư tưởng. Giá trị nhân văn thời Phục hưng vụt sáng với cơ sở lịch sử mới kết hợp cùng những quan niệm nền tảng của chủ nghĩa nhân đạo đã có trước đây. Tiếp thu thành tựu khoa học tự nhiên và triết học thời đại, các nhà nhân văn chủ nghĩa xem con người là một bộ phận của tự nhiên, sống và chết theo qui luật tự nhiên, vì vậy, phải tôn trọng tự nhiên; cần trả con người về với tự nhiên để nó phát triển đúng bản chất tự nhiên. Biểu hiện cụ thể đầu tiên của chủ nghĩa nhân văn là phong trào khôi phục, nghiên cứu, dịch thuật, truyền bá giá trị văn hóa cổ đại Hi Lạp, La Mã giàu tính nhân văn, hiện thực và chiến đấu, một nền văn hóa chưa bị làm đầy tớ cho Thần học.
Những nhà trí thức thời đại là nạn nhân của nền giáo dục Thần học và ách chuyên chính tinh thần của Giáo hội mạnh dạn đấu tranh cho quyền tự do tư tưởng, học tập, nghiên cứu và truyền bá tri thức khoa học. Say sưa với gia tài văn hóa cổ đại, các nhà nhân văn chủ nghĩa lấy câu nói của Têrăngxơ, nhà hài kịch La Mã rằng: Tôi là một con người, không có cái gì có tính chất người lại xa lạ với tôi làm châm ngôn. Như vậy, giá trị nhân văn có cơ sở thực tiễn vững vàng: ra đời trong thời đại đầy biến động với xung đột dữ dội giữa cái cũ và cái mới. Nền tảng này tạo cho giá trị nhân văn trong văn học cơ sở tồn tại vững chắc và mang tính xã hội, tính ứng dụng cao vì nó được hình thành từ những mâu thuẫn xã hội và trở về góp phần giải quyết những mâu thuẫn ấy dưới hình thức nghệ thuật.
Giá trị nhân văn trong văn học không tồn tại riêng biệt mà thuộc về cả trào lưu văn hóa, tư tưởng thời Phục hưng. Nó như ngọn đuốc hòa vào vùng sáng văn hóa rực rỡ của thời đại tiến bộ này. Đây chính là cơ sở lí luận thuận lợi tạo tiền đề cho sự phát triển như vũ bão của giá trị nhân văn thời Phục hưng. Do hai tiền đề thực tiễn và lí luận trên, giá trị nhân văn trong văn học thời Phục hưng vừa mang bản chất vĩnh cửu của văn chương, vừa in đậm dấu ấn thời đại, xã hội.
Hai cơ sở thực tế và lí thuyết này như hai giá đỡ vững chắc cho giá trị nhân văn thời Phục hưng hoàn thành vai trò nhất định đối với thời đại sản sinh ra nó; đồng thời, đóng 12 góp cho văn học một trào lưu mới và khái quát được đặc tính, bản chất, biểu hiện của giá trị tư tưởng mang tính sống còn đối với văn học này. Vấn đề thuật ngữ của giá trị nhân văn Theo Từ điển tiếng Việt năm 1997, “Chủ nghĩa nhân văn là trào lưu tư tưởng và văn hóa thời Phục hưng ở châu Âu nhằm giải phóng cá nhân con người khỏi sự đè nén tinh thần của chế độ phong kiến, chủ nghĩa kinh viện và giáo hội. Tác giả từ điển đồng nhất chủ nghĩa nhân văn với chủ nghĩa nhân đạo. Còn Nguyễn Văn Khỏa trong Từ điển Văn học định nghĩa chủ nghĩa nhân văn là một hệ thống quan điểm triết học - đạo đức, chính trị - xã hội coi con người và đời sống hiện thực, trần thế của nó, một đời sống văn minh, hạnh phúc, hữu ái, là mục đích cao nhất.
Lê Quý Đức trong Luận án Tiến sĩ Triết học Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh với sự phát triển văn hóa nghệ thuật cho rằng “chủ nghĩa nhân văn” là khái niệm rộng hơn, bao trùm khái niệm “chủ nghĩa nhân đạo”. Vì vậy, theo tác giả, chủ nghĩa nhân văn đề cập đến con người toàn diện, gắn con người với văn hóa, thường trực cùng vẻ đẹp văn hóa loài người từ thời cổ đại, qua thời Phục hưng và thời đại Ánh sáng cho đến ngày nay [11]. Thực tế Việt Nam nói riêng và phương Đông nói chung, tuy giá trị nhân văn tồn tại rất sớm nhưng chưa phát triển thành trào lưu tư tưởng độc lập như phương Tây. Đồng thời, việc nghiên cứu ở ta hay dùng những khái niệm “nhân đạo”, “nhân nghĩa” để biểu đạt nội dung giá trị nhân văn thay vì dùng đúng nội hàm khái niệm này.
Giá trị nhân văn là khái niệm có nội hàm chỉ giá trị tinh thần chung của nhân loại, là hệ thống quan điểm, lí luận về con người theo nghĩa rộng; xuất phát từ sự trân trọng giá trị, phẩm chất con người; thương yêu, đặt niềm tin vào con người; chủ trương bảo vệ quyền con người được phát triển tự do hạnh phúc; xem đó là tiêu chuẩn đánh giá các quan hệ xã hội. Nhân văn là giá trị phổ quát mang tính nhân loại nhưng chịu chi phối bởi điều kiện lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội của từng dân tộc ở từng thời đại nhất định. Bên cạnh đó, giá trị nhân văn có hạt nhân là vấn đề con người: về con người, vì con người. 13 Do con người là trung tâm của mọi thời đại, nên các giai cấp khác nhau sẽ giải quyết vấn đề con người theo những cách khác nhau.
Thuật ngữ “giá trị nhân văn” dùng ở Việt Nam, một số chỗ còn mang nghĩa nhập nhằng, chưa phân biệt rõ với các thuật ngữ “giá trị nhân đạo”, “giá trị nhân bản”. Nhìn chung, hạt nhân của ba khái niệm này là vấn đề con người và đều bàn đến thái độ ứng xử đối với con người. Tuy vậy, mỗi phạm trù lại luận bàn một khía cạnh chuyên sâu đặc thù. Giá trị nhân bản chủ trương quan niệm con người không phải thần thánh hoàn hảo nhưng phi thực mà là một thực thể sinh vật với những nhu cầu đời sống nhất định nên chịu sự chi phối của qui luật tự nhiên.
Với quan niệm trên, giá trị nhân bản chủ trương không nên tuyệt đối hóa, thần thánh hóa; cũng như không được tàn nhẫn, bất công, phàm tục hóa con người, mà cảm thông, thấu hiểu bởi “thịt da ai cũng là người” (Nguyễn Du). Quan niệm trên là thái độ khoa học đối với con người vì hiểu đúng bản chất con người như một thực thể đời sống. Giá trị nhân bản là sự nhận thức cũng như tiêu chuẩn hướng đến bản tính và phẩm chất “Chân” của con người. Giá trị nhân đạo bàn đến lòng thương người, sự mẫn cảm trước nỗi khổ, bất hạnh của đồng loại; từ đó có nguyện vọng mang đến cho con người những điều tốt đẹp.
Như vậy, giá trị nhân đạo biểu hiện thái độ đạo đức dành cho con người với tư cách đối tượng của tình thương. Nếu giá trị nhân bản thiên về thấu hiểu, cảm thông phần thể xác, bản năng của con người, thì giá trị nhân đạo quan tâm hơn đến phần đạo lí của nó. Giá trị nhân đạo chân chính không chỉ thương xót, cảm thông mà còn đòi hỏi con người được sống hạnh phúc đúng với nguyện vọng chính đáng của họ. Con người không phải siêu phàm nhưng cần dần hoàn thiện, gột rửa phần con bản năng để vươn lên phần Người, chữ “Người” đúng nghĩa viết hoa như M.Gorki đã tâm niệm.
Như vậy, nếu giá trị nhân bản xác lập cái “Chân” thì giá trị nhân đạo đề cao cái “Thiện”.