Chương 1: Khái niệm về trị giá hải quan và quá trình hình thành, phát triển các phương pháp xác định trị giá hải quan. Chương 2: Thực trạng áp dụng hiệp định trị giá GATT/WTO tại Trung Quốc và Việt Nam. Chương 3: Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc và những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xác định trị giá hải quan ở Việt Nam. 4 Chƣơng 1 KHÁI NIỆM VỀ TRỊ GIÁ HẢI QUAN VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CÁC PHƢƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRỊ GIÁ HẢI QUAN 1.
Khái niệm trị giá Hải quan Thuế Hải quan đã ra đời và tồn tại khi những hình thái Nhà nước đầu tiên xuất hiện, đó là thuế đánh vào hoạt động lưu chuyển hàng hóa từ phần lãnh thổ này đến phần lãnh thổ khác. Tuy nhiên, phải đến thời kỳ cận đại và hiện đại thì những quy định cụ thể, những đạo lý cụ thể của thuế Hải quan mới chính thức được ghi lại thành các điều khoản luật. Theo ghi nhận của Tổ chức Hải quan Thế giới thì các điều khoản đầu tiên về thuế Hải quan xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX tại Mỹ và Châu Âu. Khi đó, người ta quy định phải thu một khoản thuế Hải quan nhất định đối với một số loại hàng hóa trong thương mại quốc tế.
Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) ngày càng phát triển và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Đặc biệt là những đang phát triển, do nhu cầu cần nguồn lực tài chính phục vụ các dịch vụ công và nhu cầu bảo hộ sản xuất trong nước, thuế suất Hải quan thường cao và đánh vào hầu hết các mặt hàng nhập khẩu, theo đó thuế Hải quan chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng thu ngân sách, chẳng hạn "ở Pakistan, thuế Hải quan chiếm từ 30 - 40% tổng thu ngân sách, ở Việt Nam trong những năm trước đây thuế Hải quan chiếm 25 - 30% tổng thu ngân sách" [11]. Trong xu thế hội nhập và giao lưu thương mại toàn cầu, những yếu tố cơ bản của hệ thống thuế Hải quan như biểu thuế xuất khẩu, nhập khẩu, trị giá Hải quan, xuất xứ hàng hóa đã trở thành những nội dung quan trọng trong thỏa thuận thuế quan và thương mại giữa các quốc gia với nhau. Vì vậy, ngay 5 từ đầu thế kỷ XX, các nước kinh tế phát triển châu Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc tế.
Khái niệm trị giá Hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thành khi người ta bắt đầu chuyển dần việc đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sang đánh thuế theo giá trị hàng hóa. Càng ngày, việc tính thuế dựa trên giá trị của hàng hóa càng phát triển, do vậy việc xác định trị giá hàng hóa một cách tùy tiện không còn phù hợp nữa, ở các khu vực lãnh thổ, các nước tìm cách xây dựng cách tính toán giá trị của hàng hoá để tính thuế. Mặc dù vậy, nhưng đến nay khi nói đến trị giá Hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chẳng hạn: “- Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa dùng để tính thuế Hải quan theo giá trị. - Trị giá Hải quan là trị giá tính thuế đối với hàng hóa nhập khẩu.
- Trị giá Hải quan là giá thực tế của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. - Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa để đánh thuế Hải quan theo giá trị của hàng hóa đó. - Trị giá Hải quan là trị giá phục vụ cho mục đích tính thuế Hải quan và thống kê Hải quan” [11]. Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá Hải quan như sau: Trị giá Hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan.
Trị giá Hải quan bao gồm trị giá Hải quan của hàng hóa xuất khẩu và trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu. Trị giá Hải quan của hàng hóa xuất khẩu là giá bán hàng hóa tại cửa khẩu xuất, theo hợp đồng mua bán, không bao gồm các chi phí vận chuyển (F) và bảo hiểm (I) quốc tế. Còn trị giá Hải quan của hàng hóa nhập khẩu là giá thực tế phải trả tính đến cửa khẩu nhập 6 đầu tiên và được xác định bằng cách áp dụng tuần tự 6 phương pháp xác định trị giá theo Hiệp định trị giá GATT/TWO và dừng lại ngay ở phương pháp đã xác định được trị giá. Trị giá Hải quan được xác định cho tất cả các loại hàng hóa do các tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu không phân biệt có hợp đồng hay không có hợp đồng, nhằm mục đích thương mại hay không nhằm mục đích thương mại, hoạt động kinh doanh đầu tư hay sản xuất xuất khẩu.
Trị giá Hải quan được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu được sử dụng vào các mục đích sau: - Mục đích tính thuế: Khởi thủy đầu tiên của việc xác định trị giá Hải quan là nhằm mục đích tính thuế, chính vì lẽ đó khi nói đến trị giá Hải quan người ta thường đồng nhất với trị giá tính thuế. - Mục đích thống kê: Ngoài mục đích tính thuế, trị giá Hải quan còn được sử dụng cho mục đích thống kê, gồm thống kê kim ngạch xuất khẩu và thống kê Hải quan. Qua hoạt động thống kê mà cụ thể là căn cứ vào các số liệu thống kê Nhà nước có cơ sở để thực hiện điều chỉnh chính sách quản lý các hoạt động thương mại, chính sách quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu và chính sách quản lý Nhà nước về Hải quan cũng như chính sách thuế, qua đó thực hiện các mục tiêu quản lý của Nhà nước. - Mục đích quản lý hạn ngạch: Để thực hiện chính sách quản lý mặt hàng và chính sách thuế đối với một số mặt hàng trong từng giai đoạn phát triển nhất định, cơ quan quản lý Nhà nước chuyên ngành sử dụng hình thức cấp hạn ngạch, theo đó thông qua việc xác định trị giá Hải quan Nhà nước thực hiện được mục đích quản lý hạn ngạch.
- Mục đích xử phạt vi phạm các quy định về hải quan: Trong quá trình thực hiện hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa thường xảy ra việc vi phạm các qui định về hải quan như vi phạm các qui định về thủ tục hải quan, về kiểm tra, giám sát hải quan, về chính sách quản lý mặt hàng…, và xét về mặt nguyên tắc, các hành vi vi phạm đó đều phải xử phạt theo qui định của 7 pháp luật hiện hành, trong đó trị giá hải quan cũng là một trong những căn cứ để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định hình thức và mức độ xử phạt đối với các hành vi vi phạm về hải quan. Khái quát các hệ thống xác định trị giá hải quan 1. Xác định trị giá hải quan theo định nghĩa Brusels 1. Lịch sử hình thành định nghĩa Brusels Lịch sử loài người đã ghi nhận có hai cách đánh thuế cơ bản: + Đánh thuế cụ thể tức thuế đánh theo lượng hàng hóa mà không tính đến giá trị của hàng hóa.
+ Thuế tòng giá tức thuế đánh theo giá trị hàng hóa với một tỉ lệ phần trăm nhất định. Thuế đánh theo giá trị hàng hóa có nhiều ưu điểm nổi trội, đặc biệt trong thời kỳ công nghiệp, nó phù hợp hơn với việc giá cả lên xuống thất thường và sự khác biệt chất lượng hàng hóa. Nhưng nếu sử dụng các phương pháp xác định giá không chính xác và không ổn định lại là một trở ngại lớn cho sự tăng trưởng thương mại quốc tế. Vì thế ngay từ đầu thế kỉ 20, các nước kinh tế phát triển Châu Âu đã nỗ lực tìm kiếm một hệ thống các phương pháp xác định trị giá Hải quan áp dụng thống nhất trên phạm vi quốc tế, nhưng chỉ đến năm 1947 dưới sự bảo trợ của Hội Quốc liên (Tổ chức Liên hợp quốc ngày nay) các nỗ lực này mới thực sự thu được kết quả.
Lần đầu tiên các nguyên tắc về xác định trị giá Hải quan được ghi nhận trong Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT). Tuy nhiên, ở giai đoạn này các quy định mới mang tính nguyên tắc và thu gọn tại Điều VII của Hiệp định, nhưng có thể nói đây đã là sự khởi đầu quan trọng cho công việc hình thành nên hệ thống các quy tắc về xác định giá trị Hải quan được nhiều nước công nhận và áp dụng sau này. Ba nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Điều VII Hiệp định là: 1. Phải căn cứ vào trị giá thực tế của hàng hóa.
Không được căn cứ vào trị giá của hàng hóa được sản xuất tại nước nhập khẩu hoặc trị giá hư cấu hay áp đặt. Phải là giá mà với mức giá ấy hàng hóa đó hoặc hàng hóa tương tự được bán trong kỳ kinh doanh bình thường, với các điều kiện cạnh tranh không hạn chế. Do quy định của Điều VII mới chỉ dừng lại ở mức độ đưa ra những nguyên tắc chung mà chưa bao gồm các hướng dẫn sát với thực tế nên việc xác định trị giá Hải quan vẫn không ổn định và không thể dự đoán trước được. Với mục tiêu tạo ra hệ thống xác định trị giá Hải quan công bằng, ổn định và trung lập, năm 1947 Nhóm Nghiên cứu trị giá Hải quan đã được thành lập tại Brusselle, nhiệm vụ đặt ra cho Nhóm là phải dự thảo một Định nghĩa về trị giá Hải quan dựa trên cơ sở các nguyên tắc của Điều VII Hiệp định GATT.
Định nghĩa trị giá Brusels ra đời vào năm 1951 và có hiệu lực từ ngày 23/7/1953. Theo Định nghĩa này trị giá Hải quan là giá thông thường của hàng hóa đang xác định trị giá, hay nói cách khác là giá mà hàng hóa sẽ được bán. Giá thông thường này phải được xem xét trong điều kiện cạnh tranh đầy đủ và có xét đến thời gian bán hàng, địa điểm bán hàng và số lượng, cấp độ thương mại của giao dịch bán hàng. Với vai trò là một Điều ước quốc tế đa phương đầu tiên đề cập chi tiết đến các phương pháp xác định trị giá hải quan, Định nghĩa cũng đã đạt được một số thành công đáng kể, đó là các quy định trong Định nghĩa đã đi gần đến với thực tiễn thương mại, số lượng hàng hóa, các chi phí có liên quan v.v… cũng được xem xét khi xác định trị giá hải quan.
Hệ thống xác định trị giá hải quan theo định nghĩa Brusels đã được nhiều nước tham gia.