Đời sống tinh thần người Kơho ở Lâm Đồng qua đô thị hóa - Nghiên cứu trường hợp Tà Nung & Lạc Dương

Nghiên cứu về đời sống tinh thần của người Kơ Ho tại xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương, Lâm Đồng, trong bối cảnh đô thị hóa.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án Tiến sĩ

2019

231
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đời sống tinh thần người Kơho Lâm Đồng

Người Kơho là một trong những dân tộc thiểu số bản địa tại tỉnh Lâm Đồng, cư trú chủ yếu tại các huyện Lạc Dương, Đơn Dương và thành phố Đà Lạt. Đời sống tinh thần của người Kơho bao gồm hệ thống tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian và các mối quan hệ cộng đồng. Quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ tại Lâm Đồng đã tạo ra những biến đổi sâu sắc trong đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng này. Nghiên cứu trường hợp xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa khu vực nông thôn và đô thị. Xã Tà Nung đại diện cho khu vực bán nông thôn với tốc độ đô thị hóa chậm hơn. Thị trấn Lạc Dương thể hiện rõ nét hơn tác động của quá trình hiện đại hóa. Các yếu tố kinh tế, giáo dục và giao thoa văn hóa đều tác động trực tiếp đến đời sống tinh thần của người Kơho trong giai đoạn chuyển đổi này.

1.1. Đặc điểm dân tộc Kơho tại Lâm Đồng

Người Kơho thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer, có lịch sử cư trú lâu đời tại vùng cao nguyên Lâm Đồng. Cộng đồng Kơho gồm ba nhóm chính: Kơho Lạch, Kơho Sêré và Kơho Chil. Mỗi nhóm có phương ngữ và phong tục riêng nhưng chia sẻ nền tảng văn hóa chung. Tín ngưỡng đa thần, tục cúng Giàng và hệ thống buôn làng là những yếu tố cốt lõi trong đời sống tinh thần. Nghệ thuật dệt thổ cẩm, nhạc cụ truyền thống và sử thi kể đêm phản ánh đời sống văn hóa phong phú của dân tộc này tại vùng đất Tây Nguyên.

1.2. Bối cảnh đô thị hóa tại Lâm Đồng

Lâm Đồng là tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, với trung tâm là thành phố Đà Lạt. Quá trình đô thị hóa tại Lâm Đồng diễn ra nhanh chóng từ đầu thế kỷ XXI. Sự mở rộng đô thị, phát triển du lịch và công nghiệp hóa nông nghiệp đã thay đổi cảnh quan kinh tế-xã hội. Các khu vực ven đô như xã Tà Nung chịu tác động kép từ nông thôn truyền thống và áp lực đô thị hóa. Thị trấn Lạc Dương, huyện lỵ của huyện Lạc Dương, đang chuyển dịch mạnh từ nông nghiệp sang dịch vụ. Điều này tạo ra môi trường biến đổi văn hóa nhanh chóng cho cộng đồng người Kơho.

II. Phân tích biến đổi đời sống tinh thần người Kơho

Đời sống tinh thần của người Kơho đang trải qua quá trình biến đổi sâu sắc dưới tác động của đô thị hóa. Hệ thống tín ngưỡng truyền thống với tục cúng Giàng, cúng bến nước và các nghi lễ vòng đời có xu hướng suy giảm. Giới trẻ Kơho tiếp xúc nhiều hơn với văn hóa đô thị qua giáo dục và truyền thông đại chúng. Mối quan hệ cộng đồng buôn làng có dấu hiệu lỏng lẻo hơn so với trước. Nghệ thuật truyền thống như dệt thổ cẩm, cồng chiêng đối mặt với nguy cơ mai một. Tuy nhiên, đời sống vật chất được cải thiện đã tạo điều kiện đầu tư cho giáo dục và văn hóa. Chi tiêu cho học hành chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu chi tiêu tinh thần. Giao tiếp xã hội, hiếu hỉ cũng được quan tâm đáng kể. Sự khác biệt giữa hai địa bàn nghiên cứu phản ánh mức độ đô thị hóa khác nhau tác động đến đời sống tinh thần của cộng đồng Kơho.

2.1. Biến đổi trong tín ngưỡng và phong tục

Hệ thống tín ngưỡng đa thần của người Kơho đang chịu tác động mạnh từ quá trình đô thị hóa. Tục cúng Giàng, lễ hội truyền thống và các nghi thức vòng đời (đặt tên, cưới hỏi, tang ma) có xu hướng thu hẹp quy mô. Một bộ phận người Kơho, đặc biệt thế hệ trẻ, tiếp nhận tôn giáo mới như Tin lành, Công giáo. Tại thị trấn Lạc Dương, sự du nhập văn hóa bên ngoài diễn ra mạnh hơn xã Tà Nung. Tuy nhiên, nhiều gia đình vẫn duy trì cúng ông bà, tổ tiên như một phần quan trọng trong đời sống tinh thần hàng ngày.

2.2. Thay đổi mối quan hệ cộng đồng buôn làng

Mối quan hệ cộng đồng buôn làng là nền tảng đời sống tinh thần truyền thống của người Kơho. Quá trình đô thị hóa đã thay đổi cấu trúc và cách thức giao tiếp trong cộng đồng. Tại xã Tà Nung, các hoạt động chung như cồng chiêng, lễ hội vẫn được duy trì tương đối tốt. Tại thị trấn Lạc Dương, sự phân hóa giàu nghèo và tiếp xúc văn hóa đa dạng làm giảm tính gắn kết. Giới trẻ có xu hướng giao tiếp qua mạng xã hội thay vì sinh hoạt cộng đồng truyền thống. Tuy nhiên, các sự kiện hiếu hỉ vẫn là dịp quan trọng duy trì liên kết cộng đồng.

III. Giải pháp bảo tồn đời sống tinh thần người Kơho

Bảo tồn đời sống tinh thần của người Kơho trong bối cảnh đô thị hóa đòi hỏi sự kết hợp giữa chính sách nhà nước và nội lực cộng đồng. Giải pháp đầu tiên là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Xây dựng nhà văn hóa cộng đồng tại các buôn làng để tổ chức lễ hội, sinh hoạt truyền thống. Đưa văn hóa Kơho vào chương trình giáo dục chính quy tại các trường học trên địa bàn. Hỗ trợ kinh tế cho các nghệ nhân truyền dạy nghề truyền thống cho thế hệ trẻ. Phát triển du lịch văn hóa cộng đồng như một hướng đi bền vững. Tại xã Tà Nung, mô hình du lịch homestay đã giúp bà con có thêm thu nhập đồng thời quảng bá văn hóa. Tại thị trấn Lạc Dương, cần xây dựng các không gian văn hóa giữa lòng đô thị. Sự phối hợp giữa chính quyền, nhà nghiên cứu và cộng đồng Kơho là yếu tố then chốt. Mỗi giải pháp cần phù hợp với đặc thù từng địa bàn, tôn trọng nguyện vọng của cộng đồng.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu đời sống tinh thần

Nghiên cứu đời sống tinh thần của người Kơho tại Lâm Đồng trong quá trình đô thị hóa mang lại nhiều phát hiện quan trọng. Quá trình đô thị hóa tác động đa chiều đến đời sống tinh thần của cộng đồng Kơho.一方面, đời sống vật chất được cải thiện tạo nền tảng cho phát triển văn hóa.另一方面, các giá trị truyền thống đối mặt với nguy cơ mai một. Sự khác biệt giữa xã Tà Nung và thị trấn Lạc Dương phản ánh mức độ đô thị hóa khác nhau. Xã Tà Nung còn duy trì được nhiều yếu tố văn hóa truyền thống hơn. Thị trấn Lạc Dương thể hiện rõ nét hơn quá trình chuyển đổi văn hóa. Chi tiêu cho giáo dục chiếm tỷ trọng cao cho thấy sự quan tâm đến phát triển tinh thần. Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn cho công tác quản lý văn hóa tại địa phương. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để xây dựng chính sách bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số trong bối cảnh đô thị hóa.

4.1. Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào lý thuyết về biến đổi văn hóa dân tộc thiểu số trong đô thị hóa. Kết quả nghiên cứu bổ sung bằng chứng thực nghiệm về tác động của đô thị hóa đến đời sống tinh thần. Mô hình phân tích đời sống tinh thần đa chiều có thể áp dụng cho các cộng đồng dân tộc khác. So sánh hai địa bàn với mức độ đô thị hóa khác nhau là phương pháp hiệu quả. Nghiên cứu cũng chỉ ra giới hạn của lý thuyết hiện đại hóa trong bối cảnh Việt Nam. Phát hiện về vai trò của nội lực cộng đồng là đóng góp mới cho lĩnh vực nghiên cứu.

4.2. Ứng dụng thực tiễn tại địa phương

Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào công tác quản lý văn hóa tại Lâm Đồng. Chính quyền huyện Lạc Dương có thể sử dụng để xây dựng kế hoạch bảo tồn văn hóa Kơho. Các chương trình phát triển kinh tế-xã hội cần lồng ghép yếu tố bảo tồn văn hóa. Mô hình du lịch cộng đồng tại Tà Nung có thể nhân rộng sang các xã khác. Giáo án giảng dạy văn hóa dân tộc tại trường học cần được cập nhật dựa trên nghiên cứu. Kết quả cũng hữu ích cho các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ đời sống tinh thần của người kơho ở lâm đồng trong quá trình đô thị hóa nghiên cứu trường hợp xã tà nung và thị trấn lạc dương đà lạt lâm đồng

Trích đoạn nội dung tài liệu

lời mở đầu của cuốn sách “Giá trị văn hóa truyền thống Tây Nguyên với phát triển bên vững”, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật có đoạn viết “Tây Nguyên là nơi còn lưu được nhiễu di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, vừa có giá trị lịch sử, vừa có giá trị thẩm mỹ độc đáo như: nhà rông, nhà dài, đàn đá, tượng nhà mô, các lễ hội. Một trong những di sản nổi tiếng là không gian văn hóa công chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Vì vậy Trần Đại Quang cho rằng “Táp trung xây dựng đời sống văn hóa mới và bảo đảm nhu cầu sinh hoạt văn hóa của đồng bào các dân tộc trên cơ sở bảo tổn những tin hoa văn hóa truyền thống, gìn giữ, kế thừa có chọn lọc, phát huy những giá trị tiêu biểu, loại bỏ dân hủ tục, từng bước xây dựng giá trị mới về văn hóa, nghệ thuật, hình thành nếp sống văn mình. 21 Tiếp tục đầu tư nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, khôi phục các lễ hội và sinh hoạt văn hóa truyền thống theo nhu câu, nguyện vọng của quần chúng” (Viện nghiên cứu phát triển Phương Đông, 2016: 19).

Những nghiên cứu cụ thê về đô thị hóa trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng được Đại học Quốc gia Hà Nội, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn giới thiệu trong cuốn Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Đồ /hj hóa và quản lý quá trình đô thị hóa trong phát triển bên vững vùng Tây Nguyên. Kết quả và bài học kinh nghiệm”. Thông qua hội thảo, nhiều cách tiếp cận và góc độ nghiên cứu khác nhau về đô thị hóa và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, từ đó phác họa lên được một bức tranh toàn cảnh về đô thị hóa và quản lý đô thị hóa trong phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Cũng trên tinh thần nghiên cứu thực tiễn, trong luận án tiến sĩ của Nguyễn Hồng Hà (2007) đã làm rõ về kiến trúc đô thị và phát triển tiềm năng các buôn làng truyền thống ở các đô thị nông thôn, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và chính sách để phát huy và duy trì các buôn làng truyền thông.

Luận án tiến sĩ của Đỗ Tiến Dũng (1996) cho thấy thực trạng phát triển dân số và bảo vệ môi trường ở Tây Nguyên, trong đó, ôn định dân số là giải pháp hữu ích cho vấn đề phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Luận án tiến sĩ của Lê Văn Thanh (2007) đã đánh giá thực trạng về nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Tây Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở tây Nguyên. Mặc dù được phản ánh trên các khía cạnh khác nhau, không trực tiếp đến đời sống tinh thần của các nhóm dân cư trên địa bàn, nhưng các nghiên cứu này đã tập trung làm rõ mối quan hệ giữa phát triển đô thị hóa với phát triển toàn diện đời sống của cư dân vùng Tây Nguyên, đặc biệt là việc gìn giữ những nét văn hóa mang tính truyền thống, đậm tính dân tộc đặc trưng của vùng đất Tây Nguyên. Những nghiên cứu về chính sách dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới cũng là chủ đề chính trong các nghiên cứu.

Trong luận án tiến sĩ xã hội học của Nguyễn Minh Tuấn (2012) cho thấy các yếu tố kinh tế, xã hội, văn hóa được nghiên cứu trong sự lòng ghép, đan xen nhau trước những chuyền biến ở Tây Nguyên sau một 22 quá trình thực hiện Nghị quyết số 22 của Bộ Chính trị, đặc biệt khi có Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng Tây Nguyên (1998), cụ thê là các nghiên cứu của Ủy Ban Khoa học xã hội Việt Nam “Một số vấn đề kinh tế xã hội Tây Nguyên”; của Nguyễn Văn Tiêm và các tác giả khác: Báo cáo kết quả thực hiện dự án “Điều ra đánh giá tác động của quá trình phát triển kinh tế - xã hội đến đời sống của các dân tộc bản địa Tây Nguyên trong những năm đổi mới" (1998); Võ Tân Tú với hai công trình nghiên cứu “Tây Nguyên đưới góc nhìn Nhân học ” (2016) và “Hôn nhân và gia đình của người Chu Ru” (2016) dưới góc nhìn của ngành dân tộc học và các nghiên cứu của chính tác giả về “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến đời sống văn hóa tinh than cua người Koho ở Lâm Đông ”(2010); “Thực trạng tiếp cận các phương tiện truyền thông đại chúng của người Koho ”(2007); “Những chuyển đổi trong đời sống văn hóa tinh thân của người Koho ở Lâm Đồng dưới tác động của quá trình Đô thị hóa” (2012); Các hình thức sinh hoạt văn hóa tỉnh thân của người Koho ở Lâm Đồng (2014) và bài báo đăng trên Tạp chí khoa học giáo dục kỹ thuật, số 30/2014 có thê coi là các công trình nghiên cứu xã hội học đầu tiên về đời sống văn hóa, tỉnh thần của người Koho ở Lâm Đồng. Kết quả nghiên cứu của các công trình khác nhau đã phản ánh cụ thê hơn về tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Tây Nguyên nói chung và Lâm Đồng nói riêng, cũng như đi sâu phân tích và phản ánh về một số vấn đề trong hôn nhân, các hình thức sinh hoạt tinh thần của người Kơho ở Lâm Đồng. Nghiên cứu về đời sống tinh thần trong quá trình đô thị hóa ở Tây Nguyên đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm nghiên cứu, bởi thực tế các hình thức sinh hoạt tỉnh thần của các cộng đồng dân tộc ở Tây Nguyên không còn bó buộc vào những hủ tục, những hình thức giản đơn truyền thống như thăm hỏi, các lễ hội truyền thống mà nó còn lồng ghép bởi những hình thức sinh hoạt tỉnh thần mới, sự cách tân văn hóa, các giá tri, cach thức sinh hoạt tính thần mới trong các lễ hội, phong tục truyền thống như cách ăn mặc, hình thức tô chức hôn nhân, các hoạt động thể duc thé thao, du lịch, nghỉ lễ, tôn giáo, văn hóa công chiêng, giáo dục,. có những thay đối về hình thức, nội dung và cách thức thể hiện.

Mặc dù vậy, các nghiên cứu hiện nay phần lớn tập trung vào sự biến đổi về cấu trúc đô thị, kinh tế, sự tăng lên về dân số, đôi mới trong giáo dục,. còn sự du nhập văn hóa, lôi sông và cách thức sinh hoạt 23 tỉnh thần của các nhóm cộng đồng dân tộc khác nhau trên địa bàn Tây Nguyên vẫn cần thêm nhiều nghiên cứu cụ thé, chuyén sau để hiểu rõ hơn từng hoạt động sinh hoạt tỉnh thần của người dân; đặc biệt là sự cách tân và đổi mới trong lễ hội văn hóa công chiêng; hoặc cũng có thê là một sự thương mại hóa các trong các sản phẩm văn hóa có xu hướng tăng dân. Những nghiên cứu về đô thị hóa và đời sống văn, hóa tỉnh thần trong quá trình đô thị hóa Xu thế toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng tất yếu dẫn đến sự tăng cường hội nhập, giao lưu, đã và đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc vào đời sống văn hóa, xã hội của các dân tộc, các quốc gia, như lời mở đầu của Phan Thị Hồng Xuân (2012) đã nhận định “Wăn hóa được ví như sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ quá khư tới hiện tại, vươn đến tương lai tạo nên bản sắc của thời đại, của dân tộc mình”; trong bối cảnh hội nhập khu vực và thế giới, nhân tố văn hóa càng đóng vai trò hết sức quan trọng. Do vậy, một mặt chúng ta phải học hỏi, tiếp thu có chọn lọc những yếu tô văn hóa từ bên ngoài, mặt khác phải phát huy nội lực, sức mạnh của truyền thống để tạo nên một nền văn hóa vừa mang bản sắc dân tộc, vừa mang tính hiện đại.

Ngay từ đầu, Đảng, Chính phủ đã xác định tầm quan trọng của đời sống văn hóa tinh than va những giá trị của văn hóa trong vấn đề phát triển bền vững, phát triển toàn diện, phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện rõ trong các nghị quyết, chủ trương của Đảng, Chính phủ thông qua các kỳ đại hội, hội nghị quốc gia và quốc tế. Cụ thể, Nghị quyết số 22NQ/TƯ ngày 27-11-1988 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI nêu rõ “Tôn trọng và phát huy những phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa tốt đẹp của các tộc người. Nền văn minh ở miền núi phải được xây dựng trên cơ sở mỗi tộc người phát huy bản sắc văn hóa của mình, vừa tiếp thu tỉnh hoa văn hóa của các dân tộc khác và góp phần phát triển văn hóa chung của cả nước, tạo ra sự phong phú đa dạng trong nền văn minh của cộng đồng các tộc người Việt Nam”.

Nghị Quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc ban hành tháng 7/1998, khi đất nước đang trong quá trình chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nên kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị 24 tiếp tục khăng định: Coi trọng và bảo tồn, phát huy những giá trị truyền thống và xây dựng, phát triển những giá trị mới về văn hóa, văn học nghệ thuật của các tộc người thiểu số. Từ quan điểm đó của Đảng, Chính phủ đã có hàng loạt các quyết định quan trọng. Đó là Quyết định số 71/2001/QĐ-TTg ngày 4-5-2001 của Thủ tướng Chính phủ về các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2001-2005, trong đó có “mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tiêu biểu của dân tộc; xây dựng và phát triển đời sống văn hóa cơ sở”; Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30-10-2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc định hướng dài hạn, kế hoạch 5 năm 2001-2005 và những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế xã hội vùng Tây Nguyên, trong đó ghi rõ: “.

Bảo tồn, phát triển văn hóa vật thể và phi vật thê của đồng bào dân tộc tây Nguyên.”, và gần đây nhất, ngày 17-6-2003 Thủ tướng Chính phủ ký quyết định về phê duyệt đề án bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiêu số Việt Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ