Luận văn thạc sĩ công nghệ hóa học điều chế vật liệu ceramic foam trên cơ sở cordierite và ứng dụng làm chất mang xúc tác spinel cucr204 trong xử lý khí thải co

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu điều chế vật liệu ceramic foam từ cordierite, ứng dụng làm chất mang xúc tác spinel CuCr2O4 xử lý khí thải CO hiệu quả.

Chuyên ngành

Công nghệ hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

108
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Luận Văn Thạc Sĩ

Luận Văn Thạc Sĩ này tập trung vào việc điều chế ceramic foam từ cordierite và ứng dụng làm chất mang xúc tác cho spinel CuCr2O4 trong xử lý khí thải CO. Nghiên cứu này được thực hiện bởi Nguyễn Huyền Minh Thuy tại Trường Đại học Bách Khoa, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh. Mục tiêu chính là tạo ra một vật liệu có độ bền cơ học cao, độ thông thoáng tốt và khả năng xúc tác hiệu quả để xử lý khí thải công nghiệp, đặc biệt là CO.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

Ô nhiễm không khí, đặc biệt từ khí thải công nghiệp, là vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam. Xúc tác xử lý khí thải là giải pháp hiệu quả, nhưng cần tìm ra các chất xúc tác có giá thành thấp, độ bền cao và hoạt tính tốt. Ceramic foam với cấu trúc xốp và độ bền nhiệt cao được xem là vật liệu tiềm năng để làm chất mang xúc tác.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm điều chế ceramic foam từ cordierite, tẩm spinel CuCr2O4 lên bề mặt và đánh giá khả năng xúc tác trong xử lý khí CO. Kết quả mong đợi là tạo ra một hệ xúc tác có hiệu suất cao, giá thành thấp và phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam.

II. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nhân bản từ polyurethane foam để tạo ceramic foam từ hỗn hợp Al2O3, cao lanh và talc. Quá trình điều chế bao gồm các bước: tổng hợp bột cordierite, tạo hình ceramic foam, tẩm spinel CuCr2O4 và đánh giá hoạt tính xúc tác bằng phương pháp TPSR (Temperature Programmed Surface Reaction).

2.1. Tổng hợp bột cordierite

Bột cordierite được tổng hợp từ cao lanh, talc và Al2O3 với tỷ lệ phối liệu khác nhau. Quá trình nung được khảo sát ở nhiệt độ từ 1200°C đến 1400°C để đảm bảo hình thành pha cordierite tối ưu.

2.2. Điều chế ceramic foam

Ceramic foam được điều chế bằng cách nhân bản từ polyurethane foam. Quá trình peptize hóa với HNO3 được thực hiện để cải thiện độ nhớt và độ đồng nhất của hỗn hợp tiền chất.

2.3. Tẩm spinel CuCr2O4

Spinel CuCr2O4 được tẩm lên ceramic foam bằng phương pháp ngâm tẩm trong dung dịch muối nitrat với tỷ lệ mol CuO/Cr2O3 là 2/1. Chất kết dính PVA được sử dụng để tăng độ bám dính của xúc tác.

III. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy ceramic foam từ cordierite có độ bền cơ học cao và độ thông thoáng tốt. Spinel CuCr2O4 được hình thành trên bề mặt ceramic foam đã được xác nhận bằng phương pháp XRD. Hoạt tính xúc tác được đánh giá qua khả năng chuyển hóa CO thành CO2, đạt hiệu suất 100% ở 300°C.

3.1. Đặc tính vật liệu

Ceramic foam có cấu trúc xốp với độ xốp khoảng 75-90%, phù hợp làm chất mang xúc tác. Cordierite đảm bảo độ bền nhiệt và cơ học, trong khi spinel CuCr2O4 cung cấp hoạt tính xúc tác cao.

3.2. Hoạt tính xúc tác

Hệ xúc tác CuCr2O4/ceramic foam cho thấy khả năng chuyển hóa CO thành CO2 hiệu quả ở nhiệt độ thấp. Kết quả TPSR cho thấy hiệu suất chuyển hóa đạt 100% ở 300°C, phù hợp với ứng dụng thực tế.

3.3. Độ bền xúc tác

Xúc tác được đánh giá độ bền qua các thử nghiệm sốc nhiệt và độ bền trong nước. Kết quả cho thấy hệ xúc tác có độ bền cao, đáp ứng yêu cầu sử dụng lâu dài trong môi trường khắc nghiệt.

IV. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu đã thành công trong việc điều chế ceramic foam từ cordierite và ứng dụng làm chất mang xúc tác cho spinel CuCr2O4. Hệ xúc tác này có tiềm năng lớn trong xử lý khí thải CO, đặc biệt trong các ngành công nghiệp tại Việt Nam. Cần tiếp tục nghiên cứu để tối ưu hóa quy trình và mở rộng ứng dụng trong thực tế.

4.1. Đóng góp của nghiên cứu

Nghiên cứu đã cung cấp một giải pháp hiệu quả và tiết kiệm chi phí cho xử lý khí thải CO, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu mới về vật liệu ceramic foam trong công nghệ xử lý môi trường.

4.2. Hướng phát triển tương lai

Cần nghiên cứu thêm về khả năng ứng dụng của ceramic foam trong các hệ thống xử lý khí thải quy mô lớn, cũng như cải tiến quy trình điều chế để tăng hiệu suất và giảm chi phí sản xuất.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Ảnh hưởng của chất mang Các chất mang trong phản ứng xúc tác dị thể rất quan trọng, quyết định một phần tính chất của chất xúc tác và được đặc trưng bởi bề mặt riêng, độ xốp, hoạt tính xúc tác, độ chọn lọc. Các chất mang xúc tác chia thành 2 nhóm: nhóm chất mang tính khử (các oxit của các kim loại chuyển tiếp Fe2O3, CeO2, MnO2, MgO, CoO…) và nhóm không mang tính khử (Al2O3, SiO2). Nhóm chất mang không mang tính khử là một loại vật liệu trơ, có nhiều lỗ xốp, ít hoạt động hóa học.

Tùy thuộc vào loại thiết bị phản ứng, chất xúc tác trên chất mang có thể có những hình dạng như cầu, trụ, vẩy… Một số chất mang xúc tác thường dùng như sau bột thạch anh 3,6 m2/g; BaSO4 kết tủa 2,7m2/g; ZnO kết tủa 8,8m2/g; bột than chì 25 ÷ 30m2/g; Al2O3 100 ÷ 300m2/g; mồ hóng 200÷800m2/g; Silicagen 600 ÷ 800m2/g; than hoạt tính 700 ÷ 2000m2/g… Chất mang có tính kị nước, tính axit và lỗ xốp của chất mang là những yếu tố rất quan trọng của xúc tác oxi hóa hoàn toàn CO. Nhiều nhóm nghiên cứu đã chỉ ra rằng tính kỵ nước của chất mang sẽ làm giảm hiện tượng hấp phụ hơi nước từ dòng khí thải và từ sản phẩm hình thành do phản ứng oxi hóa [1] đặc biệt là ở nhiệt độ thấp. Sự cạnh tranh hấp phụ giữa các phân tử hữu cơ và các phân tử nước làm cho xúc tác bị mất hoạt tính [2]. Chất mang cũng là yếu tố ảnh hưởng đến hoạt tính các xúc tác vàng.

Chất mang có vai trò cố định các hạt vàng, chống hiện tượng kết tụ [3]. Hoạt tính oxi hóa các VOCs và CO trên xúc tác vàng mang trên Co3O4, Fe2O3, MnOx cao hơn hoạt tính của xúc tác Pt/Al2O3 trong đó vàng đã tăng tính linh động của oxi của chất mang và vì vậy hoạt tính chung của xúc tác cũng tăng [4]. Kim loại quý ngày càng trở nên đắt đỏ khiến cho việc nghiên cứu ứng dụng các xúc tác oxit kim loại trong xử lý môi trường trở nên cấp thiết hơn. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất của các xúc tác oxit kim loại là có nhiệt độ hoạt động cao hơn nhiều so với xúc tác kim loại quý.

Việc biến tính loại xúc tác này nhằm làm giảm nhiệt độ hoạt động tăng tính bền xúc tác đã được nghiên cứu và cho thấy hoàn toàn có thể giảm thấp nhiệt độ này. Các hệ thống xử lý khí thải chứa CO cũng như các loại xúc tác dùng trong xử lý khí thải được nhập từ nước ngoài có kinh phí cao, thường vượt quá khả năng của 1 Luận văn cao học GVHD: TS. Nguyễn Quốc Thiết các doanh nghiệp trong nước. Do vậy, ý tưởng chính của đề tài này là xây dựng khả năng tự thiết kế, tạo hình chất mang xúc tác đáp ứng tiêu chuẩn Việt Nam, có giá thành thấp hơn nhập ngoại, tận dụng tối đa năng lực nghiên cứu, chế tạo, nguyên vật liệu rẻ tiền có sẵn trên thị trường.

Các dạng chất mang dùng trong xử lý khí thải, thường sử dụng dưới dạng viên nén, dạng monolith và ceramic foam (bọt gốm) để xử lý khí thải. Dạng viên nén được đưa vào sử dụng làm chất mang xử lý khí thải là do các nhà nghiên cứu ngành hóa dầu đề xuất nhưng trong quá trình sử dụng, dạng viên có trở lực rất lớn, làm tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Các chất mang dạng viên được sử dụng thường là các oxit kim loại Al2O3, SiO2, Al2O3-SiO2…. Chất mang dạng viên nén Xúc tác dạng viên có những nhược điểm như vậy, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tạo ra dạng chất mang mới đó là dạng monolith.

Monolith là loại vật liệu có cấu trúc tổ ong với các rãnh thẳng, dài và song song nhau mà qua đó dòng khí có thể đi qua. Vách được phủ lớp “washcoat” có diện tích bề mặt lớn (như -Al2O3 và các oxit kim loại thông thường khác) [5] dùng làm chất mang xúc tác. Cấu trúc chủ yếu của khối monolith có thể là gốm (chủ yếu là cordierite hoặc một số loại đất sét khác như illite, cao lanh, montmorillonite [6]) hoặc kim loại (thép không gỉ, hợp kim, v. Một loại monolith tổ ong khác có vách chứa xúc tác như là thành phần của cấu trúc (ví dụ xúc tác tổ ong trên các zeolite, TiO2, V2O5, hoặc WO3).

Về cơ bản, cấu trúc monolith tùy vào mục đích sử dụng, có thể thay đổi về kích thước và hình dạng (thông thường nhất là hình oval và hình vuông). Rãnh của khối monolith có thể là hình lục 2 Luận văn cao học GVHD: TS. Nguyễn Quốc Thiết giác, tứ giác hoặc các hình khác. Đặc tính vật lý và hình học của khối monolith như hình dạng, kích thước rãnh, độ dày và độ xốp của vách cũng như chiều dày và vi cấu trúc của lớp xúc tác phụ thuộc vào nhu cầu ứng dụng [7].

Các hình dạng monolith Hầu hết các hệ xúc tác ứng dụng trong xử lý môi trường được chế tạo trên cơ sở các xương gốm hoặc xương kim loại honeycomb monolith. Các hệ xúc tác này có ưu điểm vượt trội so với các hệ xúc tác trên chất mang dạng viên, một trong những ưu điểm quan trọng nhất là trở lực rất thấp, đây là lợi thế quan trọng đối với các ứng dụng trong xử lý khí thải vốn có lưu lượng rất lớn. Ứng dụng thành công khối monolith như một xúc tác cho quá trình xử lý khí thải trong ôtô đã định hướng cho các ngành công nghiệp khác trong việc thiết kế hệ thống xử lý ô nhiễm môi trường [7]. Vật liệu monolith có ưu điểm trong việc sử dụng làm xương mang xúc tác trong các ứng dụng xử lý môi trường khí do các đặc tính đặc biệt của chúng mà những vật liệu khác không có như diện tích hình học lớn, trở lực thấp, độ bền nhiệt cao, độ bền cơ cao, dễ sắp xếp vào buồng xúc tác, dễ dàng nâng cấp.

[5] 3 Luận văn cao học GVHD: TS. Nguyễn Quốc Thiết Hình 1. Cấu trúc của xúc tác trên xương gốm tổ ong monolith Xương gốm tổ ong được dùng trong xử lý khí thải từ những năm 1960 [8, 9]. Ứng dụng đầu tiên của xúc tác trên xương tổ ong là xử lý khí thải từ xe hơi.

Nhu cầu phải xử lý khí thải ngày càng cao do đó xúc tác trên xương tổ ong được mở rộng ứng dụng trong xử lý các loại khí thải khác. Theo Heck xúc tác ba hướng; xúc tác xử lý bụi, CO và hợp chất hữu cơ dễ bay hơi từ động cơ diesel; xử lý ozone trong máy bay, xe hơi, động cơ khí thiên nhiên; CO và hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong các động cơ nhỏ; khử chọn lọc NOx; phân hủy hợp chất hữu cơ dễ bay hơi trong khí thải của nhà máy hóa chất, trong nhà, nhà hàng; đốt có xúc tác; [10]…. Mô hình chuyển hóa CO, HC thành CO2, H2O của monolith 4 Luận văn cao học GVHD: TS. Nguyễn Quốc Thiết Hình 1.

Ứng dụng monolith trong xử lý khí thải ôtô 1. Tổng quan về ceramic foam Gần đây, các nhà khoa học cũng đã tạo được một dạng chất mang có cấu trúc mới “cấu trúc bọt”. “Cấu trúc bọt” có hai dạng là cấu trúc đóng và cấu trúc mở. Các vật liệu có cấu trúc đóng được sử dụng chủ yếu trong cách nhiệt còn các vật liệu có cấu trúc mở lại cần thiết cho các ứng dụng làm chất mang xúc tác hoặc vật liệu lọc [11].

Ứng dụng của vật liệu bọt gốm trong vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường: TiO2 hấp phụ các chất hữu cơ trong nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp [12], làm xúc tác [13], bộ lọc diesel [14], sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp: làm bộ lọc gốm kim loại nóng chảy [11, 15], làm chất xúc tác hỗ trợ cho việc loại bỏ các khí hoặc hạt phát thải từ động cơ đốt trong [16]. Sự phân bố kích thước lỗ xốp, độ xốp và kết nối lỗ trong gốm xốp cũng có thể được tối ưu hóa để tích hợp với mô sống trong các ứng dụng y sinh [17]. Ngược lại, vật liệu gốm với mật độ lỗ cao nhưng độ xốp thấp để giảm thiểu nhiệt vận chuyển đối lưu phù hợp cho việc cách nhiệt được ứng dụng hàng không vũ trụ và lò nung [18]. 5 Luận văn cao học GVHD: TS.

Nguyễn Quốc Thiết Hình 1. Ceramic foam với cấu trúc đóng (a), mở (b) Cấu trúc bọt gốm thường có lỗ xốp trong khoảng 10-100 lỗ trên một inch: bọt gốm được làm bằng SiO2-Al2O3 có mật độ lỗ là 8, 20, 45 lỗ trên mỗi inch [19] và độ xốp khoảng 75-90% hoặc có thể cao hơn. Trong cấu trúc bọt tạo nên nhiều lỗ xốp thông nhau tạo nên sự “rối”, khi cho dòng khí đi qua vật liệu, chúng không đi theo một đường thẳng mà đi dưới dạng “zic zắc”, điều này làm cho thời gian khí tiếp xúc với vật liệu mang xúc tác lâu hơn và tiếp xúc nhiều hơn, dẫn đến có lợi trong việc dùng làm chất mang xúc tác [20]. Vì vậy, vật liệu bọt gốm có thể thay thế khối monolith trong vấn đề xử lý khí thải, sản xuất hydrogen và trong công nghiệp tổng hợp hóa chất [21].

Vật liệu bọt gốm có thể được sản xuất bằng cách sử dụng các phương pháp khác nhau bao gồm phương pháp bản sao, đốt phụ gia, phương pháp tạo bọt và gel [15, 18]. Phổ biến là phương pháp bản sao, được cấp bằng sáng chế vào năm 1963 bởi Schwartzwalder và Somers. Trong đó, quá trình đầu tiên là mang lớp phủ lên trên mẫu PU (PVC, PS), sau đó các mẫu PU (PVC, PS) được đốt thông qua một quá trình thiêu kết, sản phẩm thu được là bản sao của mẫu PU (PVC, PS) ban đầu được sử dụng. Phương pháp này tạo ra bọt gốm với một phần lớn các vi cấu trúc mở.

Các tính chất của bọt gốm được sản xuất bởi phương pháp này có thể được điều chỉnh bằng cách thay đổi độ nhớt của bùn và PU (PVC, PS…), chẳng hạn như đặc điểm, mật độ, kích thước lỗ, hình dạng và phân phối của lỗ. Chất lượng lớp phủ gốm trên miếng PU (PVC, PS,…) phụ thuộc rất nhiều vào độ nhớt của bùn và mật độ lỗ của miếng foam. Kỹ thuật bản sao sử dụng một chất nền dễ phá vỡ, ví dụ như polyurethane (PU), polyvinylclorua (PVC), polystyrene (PS) và cellulose [22], được ngâm tẩm với một lượng bùn gốm và bùn dư thừa được lấy ra để lại một lớp phủ gốm mỏng trên bề 6 Luận văn cao học GVHD: TS. Nguyễn Quốc Thiết mặt của miếng polymer.

Sau khi sấy, nung ở tốc độ nung thấp để các chất hữu cơ (PU) phân hủy dần dần tránh sự sụp đổ của các thanh chống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Điều Chế Ceramic Foam Từ Cordierite & Ứng Dụng Làm Chất Mang Xúc Tác Spinel CuCr2O4 Xử Lý Khí Thải CO là một nghiên cứu chuyên sâu về việc điều chế vật liệu ceramic foam từ cordierite và ứng dụng nó làm chất mang xúc tác spinel CuCr2O4 để xử lý khí thải CO. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp giải pháp hiệu quả trong việc giảm thiểu ô nhiễm không khí mà còn mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực vật liệu xúc tác. Độc giả sẽ được tiếp cận với các phương pháp điều chế tiên tiến, đánh giá hiệu suất xúc tác, và những kết quả thực nghiệm đầy hứa hẹn.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến hóa học và môi trường, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tác động của các hợp chất độc hại đến sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cung cấp cái nhìn sâu sắc về chất lượng nước và các phương pháp phân tích hiện đại. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về các vấn đề môi trường liên quan đến nguồn nước. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn đa chiều và chuyên sâu về các chủ đề liên quan.