CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Cơ sở lý luận 1. Khái niệm Đã có nhiều định nghĩa về năng lực; chẳng hạn: - Năng lực là kĩ năng ứng dụng, thông hiểu, diễn tả - giao lưu và giải quyết các vấn đề.
Đó là mức độ làm chủ những thao tác bắt buộc của sự thông minh như những kĩ năng trong việc quan niệm và phát triển những ý tưởng, như trí nhớ và hành trang về những kiến thức chung và chuyên biệt (7, tr. - Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 3, tr. NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội 2003: NĂNG LỰC, đặc điểm của cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. NL gắn liến với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tính chách của cá nhân.
NL có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (đặc điểm sinh lí của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người (đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân. Weinert: NL là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của HS nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp. - Nguyễn Công Khanh (2012): NL là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức, kĩ năng, thái độ và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lí vào thực hiện thành công nhiệm vụ hoặc giải quyết hiệu quả vấn đề đặt ra của cuộc sống. -… Từ những xem xét, so sánh, phân tích nhiều tài liệu; chúng tôi thấy rằng có thể vận dụng và sử dụng khái niệm: Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,.
thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. 9 Hai đặc điểm cơ bản của NL là: 1) NL được bộc lộ, thể hiện qua hoạt động của chủ thể. 2) NL đảm bảo hoạt động của chủ thể có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn. Cần phân biệt năng lực với tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.
Giữa năng lực và tri thức, kỹ năng, kỹ xảo có quan hệ mật thiết với nhau, nhưng chúng ta cần có sự phân biệt nhất định; trước hết là: - Trí thức là những hiểu biết thu nhận được từ học hỏi và từ trải nghiệm cuộc sống của chủ thể. - Kỹ năng là sự vận dụng bước đầu những kiến thức đã có vào thực tế để tiến hành một hoạt động nào đó. - Kỹ xảo là những kỹ năng được lặp đi lặp lại nhiều lần đến mức thuần thục. Thành phần của năng lực a) Chương trình Giáo dục của nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là của Cộng hòa Liên bang Đức) có chung xác định: Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể.
Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO có thể được mô tả như sau. Mô hình 04 thành phần năng lực - bốn trụ cột giáo dục. 10 Những năng lực trên đây không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này.
b) Theo trường phái Anh, thành phần của NL bao gồm: giới hạn bởi 3 yếu tố chính: Kiến thức (Knowledge), Kỹ năng (Skill), Thái độ (Attitude). Đây còn gọi là mô hình ASK. c) Theo Nguyễn Lan Phương và đồng sự - Trước hết, mỗi NL chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các NL bộ phận. - Tiếp theo, mỗi NL bộ phận lại được phân tích thành các NL bộ phận ở bậc thấp hơn, cụ thể hơn, cho đến khi xác định được các hành vi thể hiện ra bên ngoài của chúng.
Các NL bộ phận (và hành vi) nói trên có thể đồng cấp với nhau, bổ sung cho nhau, ví dụ: NL sư phạm của giáo viên có thể được tạo thành bởi các hợp phần đồng cấp như: kiến thức chuyên môn; PPDH; quản lí hồ sơ học tập; xây dựng môi trường sư phạm;… d) Theo Chương trình Giáo dục phổ thông, thành phần của NL đặc thù có thể được mô tả như hình vẽ sau: H. Mô hình 10 thành phần năng lực (Chương trình 2018). Năng lực toán học 1. Khái niệm Năng lực toán học Đã có nhiều nhà khoa học quan tâm đến khái niệm Năng lực toán học; chẳng hạn: a) Theo V.
Krutecxki: NL toán học có 2 nghĩa – 2 mức độ: Một là, nghĩa NL học toán (tái tạo), đối với quá trình nắm các kiến thức, kĩ năng toán ở trường phổ thông. Hai là, NL sáng tạo toán học, tạo ra kết quả mới, khách quan, có giá trị to lớn. Giữa hai mức độ đó không có sự ngăn cách tuyệt đối. Từ đó có thể định nghĩa NL học tập toán học: NL học tập toán học là các đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng nhu cầu học tập toán học và giúp cho việc hiểu biết các giáo trình toán một cách sáng tạo, giúp cho việc hiểu biết nhanh và sâu sắc các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo toán học.
b) Theo Jensen, 2007: NL toán học là khả năng sẵn sàng hành động để đáp ứng với thách thức toán học của các tình huống nhất định. Từ những nghiên cứu trên và nhiều tài liệu khác nữa cùng với kinh nghiệm giáo dục của cá nhân; chúng tôi xác định rằng: Năng lực toán học là những đặc điểm tâm lí về hoạt động trí tuệ giúp chủ thể hiểu biết rộng - sâu sắc và vận dụng nhanh, dễ dàng và sáng tạo được những kiến thức, kĩ năng kĩ xảo Toán học. Thành phần của Năng lực toán học Đã có nhiều cách phát biểu, nhiều quan điểm về các thành tố, thành phần của NL toán học; chẳng hạn: a) A. Cônmôgôrôp cho rằng 03 thành tố chủ yếu của NL toán học gồm: - NL biến đổi các biểu thức chữ, tìm kiếm phương pháp sáng tạo.
- NL tưởng tượng hình học. - NL suy luận logic b) V. Krutetxki cho rằng 04 thành tố chính của NL toán học gồm: - NL thu nhận thông tin toán học. - NL chế biến thông tin toán học.
12 - NL lưu trữ thông tin toán học. c) Alecksandr Khinchin cho rằng 05 thành tố của NL toán học gồm: - NL Suy luận theo sơ đồ lôgic chiếm ưu thế. - NL Tìm con đường ngắn nhất dẫn đến mục đích. - NL Phân chia rành mạch các bước suy luận.
- NL Sử dụng chính xác các kí hiệu. - NL Có đầy đủ căn cứ khi lập luận. d) Hiệp hội quốc tế về Giáo dục UNESCO (1973) xác định 10 thành phần sau NL toán học: - NL tái hiện và phát biểu, biểu diễn những định nghĩa, kí hiệu, các phép toán, các khái niệm. - NL tính toán nhanh và cẩn thận, sử dụng đúng các kí hiệu.
- NL biểu diễn các dữ kiện thành kí hiệu. - NL theo dõi một hướng suy luận hay chứng minh. - NL xây dựng một chứng minh. - NL giải một bài toán đã được toán học hóa.
- NL giải một bài toán có lời văn (chưa được toán học hóa). - NL khái quát hóa. -… e) Quan niệm (trong những năm gần đây) của một số nước về các thành tố của NL toán học Bảng 1. Các thành tố của Năng lực toán học.
Nước/Tổ chức Các thành tố của Năng lực toán học NL suy luận; NL tích hợp và kết nối; NL áp dụng Ireland và giải quyết vấn đề; NL giao tiếp và trình bày. Nhấn mạnh 3 NL cốt lõi: Hiểu; Suy luận toán học; Vương quốc Anh Giải quyết vấn đề toán học. Singapore NL suy luận; NL áp dụng kiến thức toán học và 13 mô hình hóa; NL giao tiếp và kết nối. NL tính toán (06 thành tố): NL Ước lượng và tính toán với số tự nhiên; NL Nhận biết và sử dụng các quy luật và các mối quan hệ; NL Sử dụng phân số, số thập phân, tỉ số và tỉ lệ; Việt Nam NL Sử dụng suy luận về không gian; (Phân biệt NL toán học NL Diễn giải các thông tin thống kê; và NL tính toán) NL Sử dụng đo lường.
NL toán học (05 thành tố): NL tư duy và lập luận toán học; NL mô hình hóa toán học; NL giải quyết vấn đề toán học; NL giao tiếp toán học; NL sử dụng công cụ, phương tiện học toán. Năng lực tư duy và lập luận toán học H. Mô hình 05 thành tố năng lực Toán học (Chương trình 2018). 14 Nhận xét: 1) Có nhiều cách phân chia NL toán học, các cách phân chia này có nhiều điểm tương đồng và còn những điểm khác biệt.
2) Dù phân chia cách nào thì các thành tố, thành phần của NL toán học cũng không rời nhau hoàn toàn, chúng có những giao thoa nhau. 3) Đối với đề tài này, chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu và trình bày về NL sáng tạo toán học mà chỉ đơn giản là hướng trọng tâm vào NL học toán của HS tiểu học. Mô tả các thành phần của năng lực. Mô tả 05 thành tố của năng lực Toán học.
104]: Bạn Rô – bốt đã gieo 2 con xúc xắc đó một số lần. Quan sát các mặt trên từng xúc xắc, tính tổng số chấm.