Luận văn thạc sĩ dạy học tổ hợp xác suất theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu dạy học tổ hợp xác suất theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Trường đại học

Đại học Sư phạm Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

130
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Dạy học tổ hợp xác suất

Dạy học tổ hợp xác suất là một phần quan trọng trong chương trình Toán THPT, đặc biệt trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp dạy học hiệu quả, giúp học sinh hiểu sâu và vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phương pháp dạy học được đề cập bao gồm việc sử dụng các tình huống thực tế, tăng cường tương tác giữa giáo viên và học sinh, và khuyến khích học sinh tự tìm tòi, giải quyết vấn đề.

1.1. Cơ hội phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Chủ đề Tổ hợp - Xác suất cung cấp nhiều cơ hội để phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Các bài toán trong chủ đề này thường đòi hỏi sự tư duy logic, phân tích và sáng tạo. Luận văn nhấn mạnh việc thiết kế các hoạt động học tập giúp học sinh rèn luyện kỹ năng phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp hiệu quả. Điều này không chỉ giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề trong các tình huống thực tế.

1.2. Thực trạng dạy học tổ hợp xác suất

Thực trạng dạy học Tổ hợp - Xác suất tại các trường THPT cho thấy nhiều học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu và vận dụng kiến thức. Nguyên nhân chính là do phương pháp dạy học truyền thống, thiếu sự tương tác và ứng dụng thực tế. Luận văn đã tiến hành khảo sát và phân tích thực trạng này, từ đó đề xuất các biện pháp cải thiện, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.

II. Phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Phát triển năng lực giải quyết vấn đề là mục tiêu chính của luận văn, đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay. Luận văn đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận về năng lực giải quyết vấn đề, bao gồm khái niệm, cấu trúc và các yếu tố ảnh hưởng. Đồng thời, luận văn cũng đề xuất các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua chủ đề Tổ hợp - Xác suất.

2.1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề

Năng lực giải quyết vấn đề được định nghĩa là khả năng của cá nhân trong việc nhận diện, phân tích và đưa ra giải pháp hiệu quả cho các tình huống phức tạp. Luận văn đã tham khảo các nghiên cứu quốc tế, đặc biệt là từ OECD và ATC21S, để xây dựng khái niệm này. Theo đó, năng lực giải quyết vấn đề bao gồm các kỹ năng như tư duy phản biện, sáng tạo, và khả năng hợp tác.

2.2. Biện pháp phát triển năng lực giải quyết vấn đề

Luận văn đề xuất ba biện pháp chính để phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học Tổ hợp - Xác suất: (1) Nâng cao nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề; (2) Tìm kiếm và tạo ra các cơ hội để học sinh thực hành giải quyết vấn đề trong quá trình học tập; (3) Rèn luyện các kỹ năng thành phần của năng lực giải quyết vấn đề thông qua các hoạt động cụ thể.

III. Thực nghiệm sư phạm

Luận văn đã tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đề xuất. Thực nghiệm được thực hiện trên các lớp học tại trường THPT, với sự tham gia của giáo viên và học sinh. Kết quả thực nghiệm cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, đồng thời khẳng định tính hiệu quả của các biện pháp dạy học được đề xuất.

3.1. Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm

Mục đích của thực nghiệm sư phạm là kiểm tra giả thuyết khoa học của luận văn, đồng thời đánh giá hiệu quả của các biện pháp dạy học trong việc phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh. Nhiệm vụ chính bao gồm thiết kế giáo án, tổ chức các hoạt động học tập, và đánh giá kết quả thông qua các bài kiểm tra và quan sát.

3.2. Kết quả thực nghiệm

Kết quả thực nghiệm sư phạm cho thấy học sinh ở các lớp thực nghiệm có sự tiến bộ rõ rệt trong việc giải quyết các bài toán Tổ hợp - Xác suất, cũng như trong việc áp dụng kiến thức vào thực tế. Các biện pháp dạy học được đề xuất đã giúp học sinh phát triển năng lực giải quyết vấn đề một cách toàn diện, từ nhận thức đến kỹ năng thực hành.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ dạy học tổ hợp xác suất theo định hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm về năng lực Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc tiếng Latinh"competentia”. Ngày nay, khái niệm năng lực được hiểu nhiều nghĩa khác nhau.

Năng lực được hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc. Năng lực cũng được hiểu là khả năng, công suất của một doanh nghiệp, thẩm quyền pháp lý của một cơ quan Theo từ điển tâm lý học (Vũ Dũng, 2008), “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. [9] Còn Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Rubinstein cho rằng: “NL là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một hoạt động có ích lợi xã hội nhất đinh”.45] Theo Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường thì: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động” [6, tr.45] Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng khái niệm được nêu trong Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,…Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [4 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015), Tài liệu hội thảo Chương trình giáo dục phổ thông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn tổng thể trong Chương trình giáo dục phổ thông mới, Tài liệu lưu hành nội bộ, Hà Nội, tháng 3-2015.

Năng lực giải quyết vấn đề Sau đây sẽ trình bày tổng quan về khái niệm, cấu trúc và biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề (GQVĐ). a) Cách tiếp cận Cách tiếp cận NL GQVĐ đã được tác Nguyễn Thị Lan Phương tổng hợp trong Tạp chí Khoa học giáo dục số 111, tháng 12/2014 với bài báo “Đề xuất cấu trúc và chuẩn đánh giá năng lực GQVĐ trong chương trình GDPT mới”. Tác giả đã đưa ra các quan niệm về NL GQVĐ như sau: Dạy học theo kiểu GQVĐ dần sẽ hình thành cho học sinh kỹ năng/ năng lực GQVĐ. Vì vậy từ đầu thế kỷ XXI, nhiều tổ chức và Dự án quốc tế tập trung nghiên cứu NL GQVĐ, điển hình là OECD (Tổ chức các quốc gia phát triển châu Âu) và ATC21S (Dự án Đánh giá và giảng dạy các kỹ năng thế kỷ 21).

OECD đã quan niệm NL GQVĐ theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. PISA 2003 theo hướng cá nhân phân tích vấn đề trong quá trình giải quyết nó “GQVĐ là năng lực của cá nhân khi sử dụng quá trình nhận thức để giải quyết tình huống thực tế (mô phỏng), khi mà các con đường, giải pháp không có sẵn ngay lập tức”; ở PISA 2012 thì theo hướng cá nhân tương tác với vấn đề khi tìm tòi giải pháp; còn với PISA 2015 và PISA 2018, thì lại theo hướng cá nhân hợp tác với người khác để giải quyết một vấn đề. [19] ATC21S lại tiếp cận năng lực GQVĐ theo hướng đưa ra các vấn đề động, phức tạp, đòi hỏi việc giải quyết nó vừa cần có sự tương tác của mối cá nhân với vấn đề, vừa cần có sự hợp tác giữa các cá nhân trong nhóm. Vì vậy họ mô tả “GQVĐ mang tính hợp tác, hay làm việc với người khác để GQ một thử thách chung, bao gồm sự đóng góp và trao đổi ý tưởng, kiến thức hoặc nguồn lực để đạt được mục tiêu chung” [19, tr.3] Còn trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành của Úc, Australia đã vận dụng quan điểm tiếp cận của OECD để lồng ghép năng lực GQVĐ vào CTGDPT.

Năng lực GQVĐ được xem là một bộ phận của năng lực tư duy phê phán và sáng tạo Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn theo hướng “thu nhận và đánh giá kiến thức, giải thích các khái niệm, ý tưởng, tìm kiếm các khả năng, xem xét các cách thay thế và GQVĐ”. b) Khái niệm Qua phân tích các khái niệm về NL ở trên ta thấy rằng khi nói về NL người ta thường nói đến năng lực thực hiện một hoạt động cụ thể. Vì vậy, NL GQVĐ sẽ được xem xét từ hoạt động chung, tổng quát đến hoạt động học tập trong môn Toán GQVĐ đã được giới khoa học thế giới đề cập đến từ thập kỷ 50 của thế kỷ XX ở phương diện phương pháp dạy học, điển hình là Polya, Lecne, Okon… Theo Polya trong cuốn “Làm thế nào để giải quyết nó” [22] đã đưa ra phương pháp dạy học dạy GQVĐ với quy trình: “Hiểu vấn đề; Lập kế hoạch; Tiến hành kế hoạch; Nhìn lại”. Nhà nghiên cứu giáo dục V.Kôn cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là toàn bộ các hoạt động như tính chất, tình huống có vấn đề, biểu đạt các vấn đề, chú ý giúp đỡ người học những điều cần thiết để giải quyết vấn đề, kiểm tra cách giải quyết đó và cuối cùng là quá trình hệ thống hóa, củng cố các kiến thức tiếp thu” [16].Lecce thì cho rằng: “Dạy học nêu vấn đề là phương pháp dạy học trong đó học sinh tham gia một cách có hệ thống vào quá trình giải quyết các vấn đề và các bài toán có vấn đề được xây dựng theo nội dung tài liệu trong chương trình” [11] - Một số nhà nghiên cứu nước ta cũng đưa ra khái niệm NL GQVĐ.

Theo Nguyễn Thị Lan Phương, NL GQVĐ “là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn đề mà ở đó giải pháp thông thường không giải quyết ngay được. Qua đó, thể hiện được khả năng tư duy, khả năng hợp tác nhóm trong lực chọn, quyết định và thực hiện giải pháp cho vấn đề. không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. Một số luận án tiến sĩ đề cập đến việc phát triển NL GQVĐ thông qua giảng dạy môn Toán phổ thông Theo Nguyễn Anh Tuấn [26], đưa ra quan niệm: “Năng lực phát hiện và GQVĐ của HS trong học toán là một tổ hợp năng lực bao gồm các kĩ năng (thao tác tư duy và hành động) trong hoạt động học tập nhằm phát hiện và giải quyết những nhiệm vụ của môn toán”.

Và chỉ ra hai nhóm năng lực thành tố là: Nhóm năng lực phát hiện vấn đề trong toán học và Nhóm năng lực GQVĐ trong toán Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Theo Nguyễn Thị Hương Trang [27], năng lực phát hiện và GQVĐ: “Đó là năng lực tập trung vào việc tìm kiếm và áp dụng chiến lược GQVĐ bằng con đường có mục tiêu, đòi hỏi tư duy phê phán và cách tiếp cận sáng tạo để đạt kết quả”. Theo Từ Đức Thảo [28], cho rằng: “Năng lực phát hiện và GQVĐ của HS trong Hình học là một tổ hợp các năng lực thể hiện ở kĩ năng (thao tác tư duy và hành động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của Hình học” Theo Phan Anh Tài [24], cho rằng: “Năng lực GQVĐ của HS trong học toán là tổ hợp các năng lực được bộc lộ qua các hoạt động trong quá trình GQVĐ”. Vì dạy học GQVĐ được xem là một phương pháp dạy học chủ đạo từ chương trình giáo dục phổ thông hiện hành (ban hành năm 2006), đồng thời hoạt động nhóm cũng trở nên quen thuộc trong việc tổ chức dạy học ở nhà trường phổ thông, nên đề tài sử dụng khái niệm của Nguyễn Thị Lan Phương: “NL GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ, động cơ, xúc cảm để giải quyết những tình huống vấn đề mà ở đó giải pháp thông thường không giải quyết ngay được.

Qua đó, thể hiện được khả năng tư duy, khả năng hợp tác nhóm trong lực chọn, quyết định và thực hiện giải pháp cho vấn đề. không có sẵn quy trình, thủ tục, giải pháp thông thường. c) Cấu trúc NL GQVĐ: Với những cách tiếp cận NL GQVĐ khác nhau cấu trúc của NL GQVĐ có sự khác nhau giữa các chuyên gia và tổ chức GD. Xuất phát điểm là quy trình GQVĐ của G.

Polya, cấu trúc các thành tố của NL GQVĐ của PISA (2003 và 2012), Australia và ATC21S được trình bày ở bảng 1. dưới đây: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Cấu trúc các thành tố của năng lực GQVĐ Australia Polya Năng lực Tư duy PISA (2003 & 2012) ATC21S (2013) (1973) phản biện và sáng tạo Tìm hiểu Thăm dò và Tìm hiểu nhằm xác Phân tích vấn đề vấn đề am hiểu vấn đề định, khám phá, tổ và tham gia chức thông tin và ý tưởng Lập kế Hấp thụ Mô tả và hình Đưa ra những ý Xã hội Chấp nhận quan hoạch kiến thức thành tưởng, phương án điểm và các hành động Thực hiện Lập kế Phân tích, tổng Tính hệ thống và kế hoạch hoạch và hợp, và đánh giá việc phát triển thực hiện cách lí luận và quy các quy tắc từ trình thực nguyên nhân và Vận dụng hiện kết quả của hành kiến thức Nhận động Rà soát Giám sát, Xem xét cách tư thức Xem xét và giám và kiểm xem xét duy và quy trình sát, kiểm tra nghiệm những giả thuyết khác Nguồn: Nguyễn Thị Lan Phương (2014) [19, tr.4] Như đã nói trên, PISA 2015 hướng đến đánh giá năng lưc GQVĐ mang tính hợp tác, nên cấu cấu trúc của nó gồm hai hợp phần là “Quá trình GQVĐ” và “Quá trình hợp tác GQVĐ”, với 4 kỹ năng GQVĐ (như bảng 1.1) và 3 kỹ năng hợp tác [Dẫn theo 28, tr.4]: Thiết lập và duy trì việc hiểu; Đưa ra hành động GQVĐ; và Thiết lập và duy trì tổ chức nhóm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ: Dạy Học Tổ Hợp Xác Suất Phát Triển Năng Lực Giải Quyết Vấn Đề Cho Học Sinh THPT là một nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp dạy học tổ hợp và xác suất nhằm nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh trung học phổ thông. Tài liệu này không chỉ phân tích các chiến lược giảng dạy hiệu quả mà còn đưa ra các ví dụ thực tiễn giúp học sinh áp dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể. Điều này giúp học sinh không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn phát triển kỹ năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo.

Để mở rộng kiến thức về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh thông qua dạy học STEM chương amin amino axit protein hoá học 12, nghiên cứu này tập trung vào việc áp dụng phương pháp STEM để phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong môn Hoá học. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ giáo dục học xây dựng và tổ chức dạy học tích hợp chủ đề nước theo hướng phát triển năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn của học sinh lớp 10 trung học phổ thông cũng là một tài liệu hữu ích, đề cập đến việc tích hợp kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục phát triển năng lực tự học cho học sinh thông qua các hoạt động trải nghiệm trong chủ đề thực vật lớp ba cung cấp góc nhìn mới về việc phát triển năng lực tự học thông qua trải nghiệm thực tế.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các phương pháp giáo dục hiện đại và cách thức phát triển năng lực học sinh một cách hiệu quả.