CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu về dạy học tích cực trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu về dạy học tích cực trên thế giới Từ lâu có rất nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu và đưa ra các phương pháp dạy học nhằm hướng đến việc phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS. F đã dẫn các nguyên tắc cơ bản của dạy học của Đancop L.
Việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khó khăn cao 2. Việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế 3. Trong quá trình DH phải duy trì nhịp độ khẩn trương của việc nghiên cứu tài liệu, còn những kiến thức đã lĩnh hội sẽ được củng cố khi nghiên cứu kiến thức mới. Trong dạy học phải tích cực chăm lo cho sự phát triển của tất cả HS kể cả những em học khá cũng như những em học kém.
HS phải ý thức được quá trình học tập” [18]. F thì đưa ra quan điểm: “Sự thành công của việc dạy học phụ thuộc vào mức độ mà nhà trường áp dụng toàn bộ hệ thống những phương tiện sư phạm nhằm duy trì tính nhận thức cao của học sinh ở trên lớp cũng như khi học tập ở nhà” [18]. Phan Trọng Ngọ đã giới thiệu quan điểm dạy học của Deway J và của Claparet E. J cho rằng, một phương pháp dạy học phải đáp ứng những yêu cầu sau: a) Trước hết HS phải được đưa vào trong tình huống thể nghiệm xác thực, một hoạt động mà trẻ em thấy hứng thú; b) Xuất hiện vấn đề từ tình huống thực nghiệm, có tác dụng kích thích tư duy HS; c) HS phải được cung cấp đầy đủ thông tin, cần được quan sát để giải quyết vấn đề; d) Khi đã có giải pháp tạm thời, HS có trách nhiệm xây dựng nó một cách đầy đủ theo qui trình chặt chẽ; e) Phải cho HS khả năng và cơ hội thử ứng dụng những ý tưởng đó nhằm xác định và khám phá ra giá trị của chúng [31].
Còn Claparet E thì đã tóm tắt, nhấn mạnh ba điểm lớn trong dạy học là: a) Khơi dậy một nhu cầu (hứng thú, mong muốn) bằng cách đặt đứa trẻ vào tình huống có thể khơi dậy nhu cầu hay mong muốn đó; b) Khơi dậy phản ứng thích hợp của HS nhằm thỏa mãn nhu cầu, sở thích đó. e 6 c) Tiếp nhận những hiểu biết phù hợp để kiểm tra phản ứng ấy, điều khiển và hướng chúng đến mục đích đề ra [31]. Cả 2 quy trình dạy học của Deway J và Claparet E, rất quan tâm đến việc đưa HS vào tình huống có vấn đề trong học tập, GV phải tạo cơ hội để HS phát huy được tính tích cực và tự lực của cá nhân. Song Claparet E còn lưu ý GV cần quan tâm đến nhu cầu và sở trường học tập của mỗi cá nhân HS, đây cũng chính là một ý tưởng cần vận dụng trong dạy học theo góc.
Phan Tất Đắc đã dẫn quan điểm của Lecne L. Ia: “Bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu, năng lực sáng tạo đều nảy sinh và phát triển trong quá trình giải quyết vấn đề” [9]. Phan Trọng Ngọ cũng đã nêu lại quan điểm của Petty. G về các phương pháp tích cực hoạt động học tập của HS trong: hướng dẫn HS thực hành, thảo luận, học nhóm và HS trình bày, trò chơi, đóng vai, diễn kịch và mô phỏng, seminar.
Ở tài liệu này, Petty. G đã dẫn ra công trình nghiên cứu điều tra của M.Hebditch (1990) về mức độ hứng thú với các phương pháp dạy học của HS từ 11 đến 18 tuổi. Kết quả cho thấy học sinh hứng thú nhất là các phương pháp hoạt động: Thảo luận theo nhóm (80%), trò chơi (80%), đóng kịch (70%). Trong khi đó các phương pháp giảng giải được ít người học hứng thú nhất (11%) [31].
Trong những năm gần đây, nghiên cứu của Marzano R. J [40], nghiên cứu của Zverena N. M [28] hay nghiên cứu của Hunter. M [27] đều quan tâm đến việc đề xuất các giải pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, tự chủ và sáng tạo của HS trong học tập.
Đặc biệt các tác giả đều quan tâm đến các PPDH đáp ứng cách học của từng HS, cũng như đáp ứng sự phát triển của 2 bán cầu não trong não bộ của HS. Hiện nay các PPDH theo quan điểm dạy học phân hóa HS như: Dạy theo chủ đề, dạy học theo hợp đồng và DHTG đã được triển khai áp dụng và mang lại hiệu quả rất tốt tại các nước phát triển như Bỉ, Úc, Singapo. Tình hình nghiên cứu về dạy học tích cực tại Việt Nam Trong những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu của thế kỷ 21, các nhà sư phạm của Việt nam cũng đã rất quan tâm đến việc đổi mới PPDH nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của người học. Thái Duy Tuyên thì nghiên cứu Phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm và đã đưa ra 4 đặc trưng cơ bản của phương pháp giáo dục tích cực lấy người học làm trung tâm.
Đó là: - Trò là chủ thể của hoạt động giáo dục; - Lớp học là cộng đồng các chủ thể, là thực tiễn xã hội ngày nay và cả ngày mai của người học ở ngay trong nhà trường. Lớp học được tổ chức nhằm mục đích giáo dục, làm môi trường xã hội trung gian giữa trò và thầy; e 7 - Thầy là người định hướng cho HS tự mình khám phá ra kiến thức cùng với cách tìm ra kiến thức. Thầy là người tổ chức cho trò biết cách hành động, biết hợp tác với các bạn và với thầy để tự mình khám phá ra chân lí; - Trò phải tự đánh giá, phải biết trao đổi, hợp tác với bạn. Dựa vào kết luận của thầy, người học tự đánh giá lại sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa chữa lỗi lầm mắc phải trong sản phẩm đó, tự rút ra kinh nghiệm về cách học, cách giải quyết vấn đề và tự điều chỉnh, tự hoàn thiện một sản phẩm tiến bộ hơn sản phẩm ban đầu [58].
Theo quan điểm của nhiều tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Trần Bá Hoành, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Kỳ thì chức năng chính của GV trong dạy học hiện đại là người tổ chức, hướng dẫn, tạo điều kiện thuận lợi cho HS hoạt động, để tự HS thu lượm tri trức, chiếm lấy làm tài sản sở hữu và phát triển nhân cách của mình; - GV giúp đỡ người học thực hiện phương pháp học. Vai trò của GV không chỉ truyền thụ nội dung kiến thức, mà cái chính là người tạo ra hứng thú học tập cho HS, hướng dẫn HS phương pháp học; - GV còn đóng vai trò là người trọng tài, cố vấn, kết luận về các cuộc tranh luận, đối thoại giữa trò - trò, trò - GV; GV là người kiểm tra, đánh giá kết quả tự học của HS trên cơ sở HS tự đánh giá, tự điều chỉnh [46], [47], [48]. Như vậy, các tác giả đã rất chú trọng đến vai trò của người học trong quá trình dạy học, hay nói rằng người học đóng vai trò trung tâm trong quá trình dạy học. Chúng ta còn có thể tìm hiểu các vấn đề về dạy học tích cực trong các tác phẩm của các nhà sư phạm như: Nguyễn Kỳ [23], [24]; Trần Bá Hoành, Trần Kiều, Phó Đức Hòa [15], [16], [17]; Phạm Hữu Tòng [49], [50], [51]; Phạm Xuân Quế [39];.
Trong các tác phẩm nêu trên, các tác giả đều đề cập đến các giải pháp giúp GV có thêm những quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh, phù hợp với thực tiễn giáo dục của Việt Nam. Trong những năm đầu của thế kỷ 21, dự án Việt - Bỉ đã tiến hành triển khai bồi dưỡng cho GV Tiểu học và GV THCS các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam về các PPDH và kỹ thuật dạy học tích cực. Trong đó có nhóm các phương pháp: dạy học theo góc, day học theo hợp đồng và học theo dự án … Nội dung các phương pháp này được nêu rõ trong các tác phẩm [1], [29], [55]. Tổ chức VVOB tại Việt Nam cũng đã tiến hành bồi dưỡng cho GV bậc Cao đẳng, Đại học, sinh viên các trường Sư phạm và GV THCS ở các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, Nghệ e 8 An, Quảng Nam.
về phương pháp dạy học theo góc, phương pháp dạy học theo hợp đồng, phương pháp dạy học dự án., mang lại những kết quả tốt trong việc tích cực hóa hoạt động học của HS cấp THCS. Các nghiên cứu liên quan đến dạy học theo góc trên thế giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về mô hình phong cách học tập (PCHT), đối với mỗi mô hình PCHT, mỗi tác giả lại có một định nghĩa riêng về PCHT nhưng đều có những điểm chung về PCHT là: Những đặc điểm riêng của cá nhân; bao gồm các đặc điểm về xúc cảm, tâm lí; chỉ ra cách thức ưu thế của cá nhân khi tiếp nhận, xử lí thông tin trong môi trường học tập; tương đối bền vững. Theo chúng tôi, PCHT là những đặc điểm riêng có tính ưu thế, tương đối bền vững, xác định cách tiếp nhận, xử lí, lưu giữ và phản hồi thông tin trong môi trường học tập của từng cá nhân.
Các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều cách phân loại PCHT, có thể nêu một vài quan điểm về PCHT tiêu biểu như: Nguyễn Hữu Lương đã giới thiệu quan điểm của Antoine de La Garandlie về thói quen hoạt động trí óc khác nhau của con người có ảnh hưởng đến việc học tập, đó là: thói quen gợi lại cái cụ thể đã gặp trong cuộc sống hàng ngày, thói quen tái hiện những gì đã học thuộc lòng, thói quen suy luận logic, thói quen tưởng tượng sáng tạo [26].A cho rằng sẽ có có 4 phong cách học chủ yếu sau đây: - Học qua kinh nghiệm (Concrete sensory experience) - Học qua sự quan sát, phản ánh (Reflective observation) - Học qua tóm tắt, phân tích lí thuyết (Abstract Hypothesis) - Học từ sự thử nghiệm, trải nghiệm các hoạt động (Active experimentation) [73]; Fleming đã phân chia người học theo 4 kiểu, đó là: Người học kiểu nhìn (tranh, ảnh, phim, sơ đồ); người học kiểu nghe (âm nhạc, thảo luận, thuyết trình); người học kiểu đọc và viết (tạo danh sách, đọc SGK, ghi chép); người học kiểu vận động (chuyển động, thí nghiệm, thực hành).