CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC BIỆN PHÁP TU TỪ CHO HỌC SINH LỚP 6 1. Một số vấn đề lí luận về dạy học biện pháp tu từ 1. Quan niệm về biện pháp tu từ Nói đến biện pháp tu từ, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến các dạng là tu từ ngữ âm, tu từ ngữ nghĩa và tu từ ngữ pháp. Tác giả Nguyễn Đức Tồn đã đưa ra định nghĩa về các phép tu từ ngữ âm trong cuốn “Những vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phương pháp dạy và học tiếng Việt ở bậc trung học cơ sở”.
Ông đã dựa vào các âm đầu, vần và thanh để xác định các biện pháp tu từ ngữ âm. Tu từ ngữ âm gồm: tượng thanh, điệp thanh, điệp phụ âm đầu, điệp vần, hài âm” [36,136]. Đây còn là sự phối hợp khéo léo của các âm thanh giúp những phát ngôn (thông thường hơn cả văn thơ) trở thành thể thống nhất, sinh động. Từ đó tạo ra màu sắc biểu cảm - cảm xúc nhất định phù hợp với dụng ý của người nói, người viết.
Tác giả Đỗ Hữu Châu trong tài liệu Từ vựng - ngữ nghĩa Tiếng Việt (NXB Giáo dục, 1999) khi nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa của tiếng Việt, đã đề cập đến hiện tượng chuyển nghĩa của từ (tu từ ngữ nghĩa). Căn cứ vào trình tự tiếp nối của các đơn vị từ vựng theo những cách kết hợp có hiệu quả tu từ thuộc cùng một cấp độ hoặc trong phạm vi của một đơn vị khác thuộc bậc cao hơn là biện pháp tu từ. Căn cứ vào đặc điểm ngữ nghĩa có thể phân loại tu từ ngữ nghĩa bao gồm: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, điệp ngữ, liệt kê, nói quá,. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã đi sâu và nghiên cứu về hiện tượng tu từ trong hệ thống từ vựng và khẳng định tiếng Việt có hệ thống từ vựng phong phú đa dạng là nhờ có hiện tượng tu từ xuất hiện trong từ vựng.
Năm 1985, trong tài liệu “Từ vựng học tiếng Việt”, tác giả cũng đưa ra quan điểm về hiện tượng tu từ từ vựng. Ông đã lí giải các đơn vị từ vựng được sử dụng phối hợp theo những cách thức khác nhau trong phạm vi thuộc bậc cao hơn (câu, văn bản) sẽ mang lại hiệu quả tu từ. Khiến cho mối quan hệ qua lại giữa các đơn vị từ vựng trong 13 ngữ cảnh có hiệu quả hơn là biện pháp tu từ từ vựng. Biện pháp tu từ từ vựng gồm: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hoá, phúng dụ,… Dựa vào quan điểm này, việc nhận biết biện pháp tu từ thông qua mặt từ vựng trở nên dễ dàng hơn.
Đây cũng là quan điểm giúp chúng ta tìm hiểu sâu về sự phong phú của tiếng Việt. Tác giả Hữu Đạt trong cuốn “Phong cách học và các phong cách chức năng tiếng Việt” (NXB Văn hóa thông tin, 2000) đề cập đến giá trị phong cách của từ (đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa, từ láy); giá trị phong cách của một số kiểu kết hợp từ (đảo cú pháp, chuỗi bất thường về nghĩa); giá trị phong cách của một số kiểu điệp từ, ngữ. Phần tiếp theo, tác giả tập trung bàn về: các biện pháp tu từ ngữ nghĩa gồm so sánh, ẩn dụ, hoán dụ, khoa trương; các biện pháp tu từ cú pháp gồm đảo cú pháp, rút gọn, lặp cú pháp, phép bỏ lửng, biến thể đồng nghĩa). Từ việc tìm hiểu những kết quả nghiên cứu có liên quan, chúng tôi cho rằng: Biện pháp tu từ là cách sử dụng các đơn vị ngôn ngữ (từ ngữ, câu văn, câu thơ) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt, góp phần gây ấn tượng với người đọc, người nghe về nội dung cần thể hiện.
Việc sử dụng hiệu quả các biện pháp tu từ sẽ cho thấy sự đa dạng, độc đáo của tiếng Việt về mặt từ vựng, ngữ pháp, tạo nên giá trị riêng của ngôn ngữ. Mục tiêu của việc dạy học các BPTT trong nhà trường phổ thông là nhằm rèn luyện kĩ năng sử dụng ngôn ngữ hiệu quả. Thông qua việc giải bài tập, HS nhận diện các BPTT được sử dụng trong các ngữ liệu, văn bản được học, hiểu được tác dụng của các BPTT đó. Và cuối cùng là biết vận dụng các BPTT vào việc nói, viết để thực hiện các nhiệm vụ học tập, nâng cao hiệu quả giao tiếp trong thực tiễn.
Một số biện pháp tu từ được học ở lớp 6 Theo chương trình Ngữ văn 2018, dạy học biện pháp tu từ là một trong những nội dung được đề cập trong phần Kiến thức văn học. Ở Chương trình Ngữ văn cấp THCS, HS lớp 6 được học về đặc điểm và công dụng của biện pháp tu từ ẩn dụ và hoán dụ. Mạch nội dung về biện pháp tu từ tiếp tục được 14 giảng dạy ở chương trình Ngữ văn lớp 7 với các biện pháp tu từ nói quá và nói giảm nói tránh. Sau đó ở lớp 8, HS được tìm hiểu về đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ đảo ngữ câu hỏi tu từ.
Cuối cùng ở lớp 9, HS tìm hiểu biện pháp tu từ chơi chữ, điệp thanh và điệp vần. Do giới hạn phạm vi nghiên cứu của luận văn, chúng tôi tập trung vào biện pháp tu từ ở chương trình lớp 6 cụ thể: biện pháp tu từ ẩn dụ và biện pháp tu từ hoán dụ.1 Ẩn dụ Trong tác phẩm Poetics - công trình thi pháp học đầu tiên của Hi Lạp, tác giả Aristotle đã đưa ra định nghĩa về biện pháp tu từ ẩn dụ. Căn cứ vào sự tương đồng của các sự vật có thể dùng tên của vật này để chỉ vật khác dựa vào cách lấy chủng để chỉ loại hoặc lấy loại để chỉ chủng, hoặc lấy loại để chỉ loại. Ví dụ: “Man is a wolf” được hiểu là: Con người là chó sói.
Nghiên cứu về biện pháp tu từ ẩn dụ, các nhà ngôn ngữ Việt Nam đã đưa ra những quan niệm về ẩn dụ. Đầu tiên là tác giả Nguyễn Văn Tu – một trong những người đầu tiên nghiên cứu về tiếng Việt trong tác phẩm Khái luận ngôn ngữ học xuất bản năm 1960 đã xem xét ẩn dụ dựa vào mối quan hệ gián tiếp giữa các sự vật/ hiện tượng, có thể gọi tên một sự vật, hiện tượng bằng tên của một sự vật khác. Chính nhờ những dấu hiệu chung gián tiếp ấy, ta thấy mối quan hệ giữa các sự vật khác nhau. Muốn hiểu được mối quan hệ đó ra cần căn cứ vào sự so sánh ngầm.
Tác giả cũng chỉ ra điểm khác biệt lớn nhất giữa phép ẩn dụ khác với hoán dụ ở chỗ ẩn dụ là tưởng tượng của ta để gọi một sự vật chỉ có vài dấu hiệu chung với sự vật mà từ biểu thị trước. Cũng bàn về biện pháp tu từ ẩn dụ, năm 1966, tác giả Nguyễn Lân đã giải thích ẩn dụ còn là nghĩa chuyển dựa trên cơ sở sự tương đồng, sự giống nhau. giữa các thuộc tính của cái dùng để nói và cái nói đến. Cách so sánh không cần sử dụng đến những từ so sánh như: tựa, như, tường, bằng.” cũng chính là ẩn dụ.
Tác giả Đỗ Hữu Châu cũng nêu lên quan niệm về ẩn dụ trong cuốn Giáo trình Việt ngữ của mình. Ông đã giải thích cụ thể hơn ẩn dụ là phương thức lấy tên gọi A của X để gọi tên Y (để biểu thị Y), với điều kiện X và Y có nét nào đó 15 giống nhau” [9, tr. Đồng quan điểm này, tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng cho rằng ẩn dụ chính là sự chuyển đổi tên gọi của các sự vật và hiện tượng dựa vào sự giống nhau giữa các sự vật hoặc hiện tượng được so sánh với nhau. Việc nghiên cứu về biện pháp tu từ ẩn dụ được nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam cũng thống nhất ẩn dụ là cách gọi tên vật này bằng tên của vật khác dựa trên những điểm tương đồng giữa hai sự vật, đó là: Cù Đình Tú (1983) [38], Nguyễn Nguyên Trứ (1988-1989) [43], Đinh Trọng Lạc (chủ biên) – Nguyễn Thái Hòa (2001) [22], Đinh Trọng Lạc, 1998 [23],…v.v Ẩn dụ là phương thức gọi tên dựa trên những điểm tương đồng giữa hai đối tượng mới và cũ.
Vì thế phân loại ẩn dụ chính là phân loại những loại tương đồng này. Chúng tôi xin nêu một vài kết quả phân loại mà đã được nhiều người biết đến nhất. Theo quan điểm từ vựng học, Đỗ Hữu Châu, 1962 [8,54], đã nêu ra một số loại ẩn dụ từ vựng như: (1). ẩn dụ về hình thức (mũi lao), (2).
chức năng, công dụng (cái đồng hồ), (4).v… Trong cuốn Từ vựng học tiếng Việt, 1985, tác giả Nguyễn Thiện Giáp đã nêu ra 8 loại ẩn dụ từ vựng trong từ đa nghĩa, đó là: (1). thuộc tính, tính chất (tình cảm khô khan) (5). đặc điểm hay vẻ ngoài (Thị Nở, Chí Phèo, Hoạn Thư),…[14,183-185]. Căn cứ vào quan điểm tu từ học, các nhà nghiên cứu cũng phân loại ẩn dụ dựa trên những nét tương đồng, nhưng cũng có những cách gọi tên khác nhau.
Cù Đình Tú, 1983 [38, 279], dựa vào những nét tương đồng giữa hai đối tượng, đã nêu ra 5 loại ẩn dụ tu từ thường gặp nhất. phúng dụ. Các nhà tu từ học khác như Định Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa trong công trình Phong cách học tiếng Việt phân loại ẩn dụ tu từ thành những loại như: ẩn dụ, ẩn dụ bổ sung, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ. Còn tác giả Nguyễn Nguyên Trứ nêu ra 2 loại ẩn dụ tu từ là: nhân hóa và phúng dụ [43, 101].
16 Dựa vào những đặc điểm về ngữ nghĩa, biện pháp tu từ ẩn dụ có thể được phân loại thành: Ẩn dụ của ngôn ngữ là biện pháp tu từ được xây dựng trên những mối liên hệ liên tưởng khách quan vốn được phản ánh thực tế hàng ngày của một tập thể ngôn ngữ hoặc về kinh tế văn hoá. VD: Chân có nghĩa là phần tiếp xúc cuối cùng của mặt đất và sự vật. Do đó bất cứ đối tượng nào ở cuối đều có thể được gọi là chân. Ẩn dụ được sử dụng trong nhiều thể loại văn học với những tác dụng nghệ thuật riêng biệt.
Chúng ta có thể thấy trong văn xuôi nghệ thuật, ẩn dụ bổ sung trở thành một phương tiện tu từ có tác dụng tạo ra những hình ảnh nghệ thuật, gợi cho người đọc những cảm nhận mới mẻ về những sự vật hiện tượng trong cuộc sống. Những sự vật ấy dường như có đầy đủ cả hình, cả khối, cả màu sắc, cả âm thanh và thậm chí còn ngửi thấy được, sợ được, nếm được.