phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Chƣơng 2: Thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. Chƣơng 3: Giải pháp đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn tỉnh Hòa Bình. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.
Một số khái niệm cơ bản “Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.01] Nhƣ vậy, đào tạo nghề có những đặc trƣng cơ bản sau: - Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là dạy nghề và học nghề. + Dạy nghề: “Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp”. + Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của ngƣời lao động để đạt đƣợc một trình độ nghề nghiệp nhất định”. + Đào tạo nghề cho ngƣời lao động là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho ngƣời lao động để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm đào tạo nghề mới, đào tạo nghề bổ sung, đào tạo lại nghề.
Các hình thức đào tạo nghề gồm có: Hình thức kèm cặp trong sản xuất, hình thức mở các lớp nghề tại doanh nghiệp, cơ sở sản xuất và hình thức đào tạo tại cơ cơ sở đào tạo nghề tập trung. Sự khác nhau giữa khái niệm “Đào tạo nghề” (ĐTN) và “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn” là ở đối tƣợng đào tạo nghề; là những ngƣời thuộc lao độngở vùng nông thôn và những điều kiện gắn với quá trình đào tạo nghề đó. Từ sự phân tích trên, ta có thể đƣa ra khái niệm: 7 - Đào tạo nghề cho lao động nông thôn (LĐNT): Là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để những ngƣời lao động ở nông thôn có đƣợc một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH nông thôn. Lao động nông thôn Lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động [20, tr.215] Nông thôn là vùng lãnh thổ rộng lớn thƣờng bao quanh các đô thị (thành phố, thị trấn, khu công nghiệp), ở đó hoạt động nông nghiệp( nông, lâm, ngƣ nghiệp) đóng vai trò chủ yếu và quan trọng, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất hàng hóa thấp và mức sống của ngƣời dân thấp.
Tuy nhiên, ở nông thôn những di sản văn hóa, phong tục tập quán cổ truyền phong phú. Nhƣ vậy, nông thôn có những đặc trƣng sau: - Nông thôn là vùng lãnh thổ sinh sống của cộng đồng dân cƣ chủ yếu là nông dân, là vùng chủ yếu sản xuất nông nghiệp, ngoài ra còn có các hoạt động sản xuất và dịch vụ phục vụ chủ yếu cho nông nghiệp và cho cộng đồng nông thôn. Sản xuất chịu ảnh hƣởng nhiều bởi điều kiện tự nhiên. - So với đô thị, nông thôn có cơ sở hạ tầng, trình độ sản xuất hàng hóa thấp hơn.
- Nông thôn là vùng có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật thấp hơn đô thị. Đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân cũng thấp hơn. Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. 8 Lực lƣợng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lƣợng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những ngƣời trong độ tuổi lao động mà còn có những ngƣời trên hoặc dƣới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhƣng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Theo tác giả Nguyễn Tiệp: “Lao động nông thôn là một bộ phận của nguồn nhân lực quốc gia, bao gồm toàn bộ những ngƣời có khả năng lao động (lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những ngƣời có khả năng tham gia lao động nhƣng chƣa tham gia lao động) thuộc khu vực nông thôn (khu vực địa lý bao trùm toàn bộ dân số nông thôn”.215] Tuy nhiên, trong nội dung của luận văn, tác giả sẽ tiếp cận khái niệm lao động nông thôn dựa trên một số đặc điểm cơ bản sau: - Số lƣợng lớn: Theo Báo cáo điều tra Lao động việc làm của Tổng Cục Thống kê lực lƣợng lao động trong độ tuổi lao động quý IV năm 2020 ƣớc tính là 48,8 triệu ngƣời, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên năm 2020 ở khu vực nông thôn là 16,3. - Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, không đƣợc đào tạo cơ bản. Ngoài ra, họ tham gia sản xuất, phục vụ nông nghiệp: bán giống, cây con, thuốc bảo vệ thực vật,… - Mang tính thời vụ: lao động nông nghiệp, nông thôn làm việc có tính mùa vụ do dặc thù của nghề nông.
Đối tƣợng của nghề nông là cây trồng, vật nuôi, chúng là những cơ thể sống trong đó quá trình tái sản xuất tự nhiên và tái sản xuất kinh tế đan xen nhau. Cùng một loại cây trồng, vật nuôi ở những 9 địa phƣơng có điều kiện tự nhiên khác nhau sẽ có quá trình sinh trƣởng và phát triển khác nhau. Tính thời vụ trong nông nghiệp là vĩnh viễn, chúng ta chỉ có thể tìm cách giảm tính thời vụ chứ không thể xóa bỏ đƣợc. - GDP/đầu ngƣời thấp.
Nông thôn là khu vực trong đó nông nghiệp là hoạt động chủ yếu của ngƣời dân. Nông nghiệp là ngành lao động nặng nhọc và thu nhập thấp, rủi ro cao. Vì vậy điều kiện sản xuất và sinh hoạt của ngƣời dân rất khó khăn, hầu hết thu nhập của họ chỉ đủ tái sản xuất giản đơn và chỉ dùng cho các nhu cầu đời sống tối thiểu. Dựa vào một số đặc điểm cơ bản nêu trên, có thể đƣa ra cách tiếp cận khái niệm: lao động nông thôn là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn, đang có việc làm và những ngƣời thất nghiệp nhƣng có nhu cầu tìm việc làm.
Nghề Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ đƣợc đào tạo, con ngƣời có đƣợc những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đƣợc những nhu cầu của xã hội. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Nghề là công việc chuyên làm theo phân công lao động trong xã hội”. Với cách tiếp cận này, mỗi ngƣời trong hệ thống phân công lao động xã hội sẽ đảm nhận một hoặc một số công việc, những công việc này lặp đi lặp lại thƣờng xuyên, từ ngày này sang ngày khác, nội dung của những công việc đó không hề thay đổi, và nó đƣợc hiểu là nghề. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực – Đại học kinh tế quốc dân tác giả Trần Xuân Cầu, “Nghề cũng đƣợc hiểu là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và thói quen thực hành để hoàn thành những công việc nhất định”.105] Nhƣ vậy để có đƣợc nghề, ngƣời lao động cần phải có kiến thức về lý thuyết của một hoặc một vài môn khoa học nào đó, những kỹ năng thực hành đến mức thành thạo.
Nghề có thể 10 hiểu là tổng hợp những kiến thức và kỹ năng lao động mà con ngƣời tiếp thu đƣợc do kết quả của đào tạo chuyên môn và tích lũy kinh nghiệm trong công việc. Mặc dù các khái niệm trên đƣợc hiểu theo các góc độ khác nhau, song chúng ta có thể thấy nghề có các đặc điểm sau: - Nghề là hoạt động, là công việc về lao động của con ngƣời đƣợc lặp đi lặp lại. - Nghề đƣợc hình thành do sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu của xã hội và là phƣơng tiện để sinh sống. - Nghề là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi, đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Vì vậy đào tạo nghề là yêu cầu tất yếu bắt nguồn từ chính bản chất, đặc trƣng của nó. Đào tạo nghề Trƣớc hết, chúng ta tìm hiểu khái niệm Đào tạo nghề: Theo tác giả Trần Xuân Cầu, “Đào tạo nghề là quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, khả năng thuộc về một nghề, một chuyên môn nhất định để ngƣời lao động thực hiện có hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của mình.103] Đào tạo nghề gồm hai quá trình không thể tách rời nhau: dạy nghề và học nghề. Trong một số văn bản hiện nay, đào tạo nghề và dạy nghề đƣợc đồng nhất với nhau. Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp 2014 số 74/2014/QH13 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 27/11/2014 tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XIII: "Dạynghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.01] 11 Dạy nghề là tổng thể các hoạt động truyền nghề đến ngƣời học nghề.
Đó là quá trình giảng viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để học viên có đƣợc một trình độ, kỹ năng, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. Học nghề là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của học viên để có đƣợc một nghề nghiệp nhất định.