Chương 1: Cơ sở lý luận về đánh giá chính sách và đánh giá Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới. Chương 2: Thực trạng đánh giá Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp đánh giá Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới tại huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH VÀ ĐÁNH GIÁ CHƢƠNG TRÌNH XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 1.
Đánh giá chính sách 1. Khái niệm về đánh giá chính sách Chính sách công là một công cụ quan trọng của quản lý Nhà nƣớc. Thông qua việc ban hành và thực thi các chính sách, những mục tiêu của Nhà nƣớc đƣợc hiện thực hóa. Mỗi chính sách vận động theo một quy trình, bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: Hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách.
Ở Việt Nam, lâu nay Nhà nƣớc đã chú trọng nhiều đến khâu hoạch định và thực thi chính sách, song việc đánh giá chính sách thì dƣờng nhƣ bị bỏ qua hoặc rất ít đƣợc quan tâm. Theo tài liệu “Đánh giá chính sách công” của Nhà xuất bản Lao động xã hội (số thứ tự trong danh mục tài liệu tham khảo: số 15, trang 15): Đánh giá chính sách là một nhiệm vụ quan trọng trong chuỗi hoạt động chính sách nhằm xem xét, nhận định về giá trị các kết quả đạt đƣợc khi ban hành và thực hiện một chính sách công. Để có thể đi vào cuộc sống, chính sách công đƣợc thể chế hóa thành các quy định pháp luật, do đó việc nhìn nhận và đánh giá chính sách thƣờng gắn với đánh giá những quy định pháp luật này đƣợc triển khai thực hiện thế nào, có phù hợp với những yêu cầu của cuộc sống hay không. Khi đánh giá chính sách cần bao quát việc xem xét về tổng thể các quyết định của Nhà nƣớc (Chính phủ, Trung ƣơng và chính quyền địa phƣơng) đối với việc giải quyết một vấn đề cấp thiết đang đặt ra trong thực tiễn.
Đánh giá chính sách cho phép xem xét, nhận định không chỉ về nội dung 9 chính sách, mà cón về quá trình thực thi chính sách, từ đó có biện pháp điều chỉnh phù hợp để đạt các mục tiêu mong đợi. Hiện có nhiều định nghĩa về đánh giá chính sách. Có cách tiếp cận từ kết quả đầu ra của chính sách, nhƣng có cách tiếp cận từ quy trình chính sách hay sự tƣơng tác giữa chính sách với mục tiêu và quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhƣ vậy có thể hiểu rằng, đánh giá chính sách là xem xét một cách có hệ thống, khách quan các kết quả đạt đƣợc từ chƣơng trình, chính sách.
Sự cần thiết đánh giá chính sách Khi Việt Nam chuyển sang phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, đòi hỏi ban hành các chính sách để tạo ra những nhân tố, môi trƣờng cho sự chuyển đổi trở thành cấp bách. Vì vậy, trong một thời gian khá dài, Nhà nƣớc tập trung cao vào việc xây dựng và ban hành các thể chế, nhằm tạo các hành lang pháp lý cho mọi lĩnh vực kinh tế, xã hội. Việc ban hành hàng loạt văn bản pháp luật trong không ít trƣờng hợp dẫn đến tình trạng chồng chéo, trùng lắp, thậm chí mâu thuẫn nhau giữa các quy định pháp lý, mà cuối cùng là sự chi phối của chúng đối với các hoạt động kinh tế - xã hội theo các chiều khác nhau, khiến cho những hoạt động này không đạt đƣợc mục tiêu mong muốn. Nói cách khác, hàng loạt chính sách đƣợc ban hành, có hiệu lực thi hành, song việc chính sách đó có hiệu lực thực tế nhƣ thế nào và đáp ứng mục tiêu đặt ra đến đâu thì dƣờng nhƣ chƣa không đƣợc quan tâm.
Đôi khi chính sách ban hành chẳng những không giải quyết đƣợc vấn đề đặt ra, mà còn gây ra những hiệu ứng phụ làm phức tạp thêm vấn đề. Hơn thế, việc hoạch định chính sách (thông qua việc soạn thảo và ban hành hàng loạt văn bản pháp luật) và việc tổ chức triển khai các chính sách đó trên thực tế đã tiêu tốn tiền của của nhân dân và sức lực của không ít ngƣời, song nhiều khi các chính sách này không đem lại lợi ích tƣơng xứng với chi 10 phí đã bỏ ra. Do đó, đã đến lúc cần coi đánh giá chính sách nhƣ một khâu không thể thiếu trong quy trình chính sách. Hiện nay, nhu cầu đánh giá chính sách công ngày càng lớn đối với cả cơ quan Nhà nƣớc và các cá nhân, tổ chức.
Dƣờng nhƣ khi chính sách ra đời là ngay lập tức xuất hiện một câu hỏi mang tính phổ biến là chính sách này có tác động gì đến xã hội. Một số năm trở lại đây, vấn đề đánh giá chính sách trở thành trọng tâm trong các chính sách của Nhà nƣớc. Các trở ngại trong đánh giá chính sách công hiện nay Mặc dù là một khâu quan trọng trong quy trình chính sách, song ở nƣớc ta, nhiều chính sách không đƣợc quan tâm đánh giá, nguyên nhân: Thứ nhất, nhận thức về đánh giá chính sách còn đơn giản. Điều đó đƣợc biểu hiện: Đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ.
Mặc dù chính sách đƣợc thể chế hóa trong văn bản pháp luật, song không thể đồng nhất chính sách với một văn bản đơn lẻ. Thậm chí có những chính sách lớn lại là tập hợp của những chính sách bộ phận. Chẳng hạn, chính sách xóa đói giảm nghèo bao gồm chính sách hỗ trợ ngƣời nghèo thông qua các chƣơng trình mục tiêu quốc gia, chính sách miễn giảm học phí cho ngƣời nghèo, chính sách khám, chữa bệnh miễn phí cho ngƣời nghèo… Do đó, việc đánh giá chính sách thƣờng khá phức tạp, đòi hỏi có cách nhìn tổng thể. Coi đánh giá chính sách là việc của cơ quan ban hành chính sách, nên chờ đợi khi cơ quan này có chủ trƣơng hoặc yêu cầu cụ thể mới tổ chức triển khai đánh giá.
Tách biệt giữa đánh giá nội dung chính sách (thể hiện qua văn bản) với đánh giá việc thực thi chính sách. Đôi khi, chúng ta rơi vào các nhận xét phiến diện, hoặc cho rằng các chính sách ban hành là đúng đắn, thƣờng chỉ sai 11 phạm trong khâu thực thi, nhƣng có lúc lại che lấp các hạn chế trong thực thi chính sách bằng cách đổ lỗi cho sự không phù hợp các quy định pháp luật. Thứ hai, các cơ quan chức năng thƣờng không quan tâm tổ chức đánh giá chính sách. Trên thực tế, rất ít chính sách đƣợc tổ chức đánh giá một cách nghiêm túc, bài bản.
Nhiều cơ quan có thẩm quyền (cơ quan ban hành chính sách hoặc chủ trì thực hiện chính sách) không đƣa việc đánh giá chính sách vào chƣơng trình hoạt động của mình. Có thể nêu ra nhiều nguyên nhân của tình trạng này: Do không đủ nhân lực, không có nguồn lực tài chính để đánh giá, do chính sách thực hiện hết sức “bình lặng” không gây ra vấn đề gì, do các cơ quan này không muốn “tự phán xét” các chính sách do mình ban hành và thực thi…Đƣơng nhiên, việc đánh giá chính sách không chỉ do các cơ quan Nhà nƣớc tiến hành. Các đánh giá chính sách có thể đƣợc phản ánh qua công luận, qua ý kiến của nhân dân, của các tổ chức chính trị, xã hội. Song sự đánh giá từ bên ngoài Nhà nƣớc sẽ chỉ có giá trị thực sự nếu đƣợc các cơ quan Nhà nƣớc tiếp nhận, tổng hợp và rút kinh nghiệm.
Trong không ít trƣờng hợp, sự đánh giá lẻ tẻ, tự phát của nhân dân bị bỏ qua. Nếu thiếu sự chủ trì của các cơ quan chức năng, thì việc đánh giá cũng ít có tác động đến các nhà hoạch định và thực thi chính sách. Thứ ba, việc xem xét lại chính sách đôi khi chỉ đƣợc thực hiện khi xuất hiện “vấn đề”. Trong một số trƣờng hợp, các chính sách vẫn bình yên trong một thời gian dài, chỉ đến khi “vấp váp” trong thực tiễn, ngƣời ta mới nhận ra đƣợc những “lỗ hổng” của chính sách.
Thứ tư, thiếu các tiêu chí để đánh giá chính sách một cách khoa học. Khi đánh giá chính sách, ngƣời ta thƣờng so sánh các kết quả đạt đƣợc với mục tiêu chính sách ban đầu. Việc đánh giá chính sách sẽ dễ dàng hơn nếu các mục tiêu chính sách đƣợc thể hiện dƣới dạng định lƣợng, chẳng hạn nhƣ tốc độ gia tăng dân số, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đi học đƣợc đến trƣờng… 12 Song, trên thực tế đa số các mục tiêu chính sách đƣợc thể hiện dƣới dạng định tính, nhiều khi mục tiêu không rõ ràng, trong trƣờng hợp đó việc đánh giá chính sách theo mục tiêu đề ra có thể không phản ánh hết các giá trị của chính sách. Để đánh giá chính sách, về nguyên tắc, phải có các bộ tiêu chí đánh giá đƣợc thiết kế đối với từng loại chính sách.
Việc thiếu các tiêu chí đánh giá khiến cho việc đánh giá không toàn diện, đầy đủ, mang tính phiến diện. Thứ năm, đánh giá chính sách đôi khi mang tính một chiều, chỉ phản ánh nhận xét của các cơ quan Nhà nƣớc mà không quan tâm đủ mức đến sự phản hồi từ xã hội, từ những đối tƣợng mà chính sách hƣớng vào. Mặc dù đánh giá của các cơ quan Nhà nƣớc về chính sách có thuận lợi do họ nắm rất rõ về chính sách và quá trình thực hiện chính sách, nhƣng cách làm này có thể dẫn đến chỗ các kết quả đánh giá chịu sự chi phối của chính những ngƣời làm ra và vận hành chính sách đó, việc chỉ ra các sai sót của bản thân họ sẽ gặp phải rào cản tâm lý mạnh mẽ và nhiều khi bị bóp méo theo ý muốn chủ quan. Vì vậy, khi đánh giá chính sách, ít cơ quan tổ chức các cuộc khảo sát lấy ý kiến phản hồi từ nhân dân hay các đối tƣợng hƣởng lợi một cách rộng rãi, công khai.
Trong một số trƣờng hợp, các cơ quan chức năng đã tổ chức thu thập ý kiến phản hồi từ các phƣơng tiện truyền thông, hay tổ chức các buổi đóng góp ý kiến thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội. Tuy nhiên, không phải lúc nào các ý kiến cũng phản ánh đầy đủ và chính xác những vấn đề mà thực tiễn đang đặt ra liên quan đến chính sách đƣợc đánh giá. Thứ sáu, thiếu kinh phí dành cho việc đánh giá chính sách. Các cơ quan thƣờng dành nguồn kinh phí có hạn của mình để triển khai các công việc mới (nhằm tạo ra những kết quả mới) hơn là dùng kinh phí đó để xem xét lại những việc đã làm.
Nông thôn mới 1.