MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dƣơng có diện tích đất liền rộng 331.690km2 trải dài trên 15 vĩ độ từ Bắc xuống Nam. Với 3/4 diện tích lãnh thổ là đồi núi, bờ biển trải dài trên 3.260km, là nơi giao thoa của ba luồng di cƣ: Nam Trung Quốc, Hymalaya – Mianma, Indonesia – Malaysia đã tạo nên tính đa dạng sinh học cao đứng thứ 16 trên thế giới. Trong đó, tài nguyên thực vật rất phong phú và đa dạng, đƣợc phân bố trên toàn bộ lãnh thổ.
Theo thống kê của Tổ chức IUCN, Việt Nam hiện có 12.000 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc hơn 2.256 chi, 305 họ chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% số họ thực vật trên thế giới [63]. Đa dạng sinh học có vai trò rất quan trọng đối với việc duy trì các chu trình tự nhiên và cân bằng sinh thái. Đó là cơ sở của sự sống còn và thịnh vƣợng của loài ngƣời và sự bền vững của thiên nhiên trên trái đất. Theo ƣớc tính giá trị của tài nguyên đa dạng sinh học toàn cầu cung cấp cho con ngƣời là 33.000 tỷ đô la mỗi năm.
Đối với Việt Nam nguồn tài nguyên đa dạng sinh học trong các ngành Nông nghiệp, Lâm nghiệp, Thủy sản hàng năm cung cấp cho đất nƣớc khoảng 2 tỷ đô la. Hiện nay, nguồn tài nguyên đa dạng sinh học nói chung và nguồn tài nguyên thực vật nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng. Nhiều hệ sinh thái và môi trƣờng sống bị thu hẹp diện tích. Nhiều loài thực vật bị suy giảm cả về số lƣợng và chất lƣợng, một số loài đã và đang đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng.
Nguyên nhân chính là do tập quán du canh, du cƣ, phá rừng làm nƣơng rẫy của đồng bào các dân tộc; sự bùng nổ dân số, ô nhiễm môi trƣờng và thiên tai liên tiếp xảy ra. Chính điều này dẫn đến quá trình khai thác quá mức và làm suy giảm một cách nhanh chóng nguồn tài nguyên thực vật. Điều đáng lo ngại hơn cả là tình trạng thƣơng lái trong và ngoài nƣớc lợi dụng sự thiếu hiểu biết của ngƣời dân vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa để thu gom và mua bán số lƣợng lớn thực vật có giá trị qua biên giới với giá rẻ. Hoạt động này không chỉ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 1 http://www.vn c đơn thuần làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thực vật mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế đối với quốc gia và địa phƣơng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và nguồn tài nguyên thực vật nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt là công tác bảo tồn. Yên Ninh là một xã nằm ở phía Bắc của huyện Phú Lƣơng, tỉnh Thái Nguyên. Đây là xã có diện tích lớn nhất huyện, có hệ sinh thái đa dạng và bao gồm nhiều dân tộc anh em sinh sống từ lâu đời. Đồng bào các dân tộc ở đây có nhiều kinh nghiệm sử dụng các loài thực vật phục vụ cho các lợi ích khác nhau trong đời sống hàng ngày của bà con.
Tuy nhiên, những kinh nghiệm đó đang dần bị mai một, đồng thời do những nguyên nhân khác nhau mà nguồn tài nguyên thực vật nơi đây đang đứng trƣớc nguy cơ suy giảm. Vì vậy, cần phải thực hiện công tác nghiên cứu và điều tra qua đó làm cơ sở cho công tác bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên. Với lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và thực vật có tinh dầu ở xã Yên Ninh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình, nhằm đóng góp vào mục đích bảo tồn và phát triển kinh tế của địa phƣơng. Đóng góp của đề tài - Đã xác định đƣợc tính đa dạng nguồn tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc và thực vật có tinh dầu ở khu vực nghiên cứu.
- Đã xác định đƣợc 16 loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo sách đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32 của Chính phủ (2006). Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 2 http://www.vn c Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu về đa dạng tài nguyên thực vật 1. Những nghiên cứu về tài nguyên thực vật trên Thế giới Tổng số loài thực vật hiện nay trên thế giới có nhiều biến động và chƣa cụ thể, tuỳ từng tác giả do chƣa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ.
Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và các loài thực vật bậc thấp khác [63]. Slucop đã đƣa ra số lƣợng các loài thực vật hạt kín phân bố ở các châu lục nhƣ sau: Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1. Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.
Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 3 http://www.vn c Châu Úc có khoảng 21.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc có 6.000 loài; Tây Nam Úc có 5.500 loài; Lục địa Úc có 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan có 4. Đóng góp lớn nhất về nghiên cứu cây có ích là Alphonse de Candolle, trong cuốn “Địa lý học thực vật” (1855) và “Nguồn gốc cây trồng” (1883) ông đã thống kê các loài cây có ích đƣợc gây trồng trên thế giới. Những nghiên cứu về tài nguyên thực vật ở Việt Nam Thực vật có vai trò rất quan trọng, đặc biệt trong đời sống của con ngƣời.
Chính vì vậy việc nghiên cứu về giá trị sử dụng của thực vật đƣợc quan tâm từ rất sớm. Từ thời nguyên thủy, để tồn tại con ngƣời đã biết tìm kiếm thức ăn và các vị thuốc có trong cây cỏ tự nhiên. Những hiểu biết về cây cỏ có lợi và độc hại đƣợc truyền miệng và ghi chép lại, đúc kết thành kinh nghiệm qua nhiều thế hệ nối tiếp nhau. Ngày nay, nhiều cây thuốc đã có hiệu quả điều trị rõ rệt, nhiều loài thực vật đã đƣợc ứng dụng vào trong sản xuất hàng ngày phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống của con ngƣời.
Khởi đầu, trong quá trình tìm kiếm thức ăn bằng lƣợm hái hoa quả cỏ cây, săn bắt cá chim trùng thú, ngƣời xƣa đã phát hiện dần: những thứ có độc thì biết tránh dùng, những thứ bổ ích cho cơ thể thì dần dần về sau trồng trọt chăn nuôi để làm lƣơng thực, thực phẩm; những thứ ngƣời ăn vào mà khỏi bệnh thì tích lũy dần kinh nghiệm để dùng làm thuốc chữa bệnh [28]. Từ thời Hồng Bàng và các vua Hùng (2879 - 257 TCN), vào trƣớc những năm 1110 TCN, đã có tục ăn trầu (nhai trầu với cau, vôi, và rễ vỏ) đồng thời có tục lệ nhuộm răng đen bằng cánh kiến đỏ, vỏ lựu [11]. Cuối thế kỉ III TCN, nhân dân ta đã biết cất rƣợu để uống và dùng làm thuốc. Nhà Thục An Dƣơng Vƣơng (257 - 219 TCN) đã biết tẩm độc vào mũi tên bằng đồng bắn để diệt địch [28].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 4 http://www.vn c Dƣới thời nhà Trần đã xuất hiện nhiều thầy thuốc tiêu biểu nhƣ: Phạm Công Bân (Cẩm Bình- Hải Dƣơng) giữ chức Thái y lệnh, ngoài việc chăm sóc sức khỏe cho dân, ông còn bỏ tiền riêng mua sắm thuốc men, dựng nhà nuôi dƣỡng bệnh nhân nghèo, tàn tật, trẻ em mồ côi cơ nhỡ; Tuệ Tĩnh còn gọi là Nguyễn Bá Tĩnh một tiến sĩ hoàng giáp, một nhà sƣ và là một lƣơng y nổi tiếng đã đề xuất “thuốc Nam Việt chữa người Nam Việt” [11]. Ông đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vị thuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3032 phƣơng thuốc đơn giản để trị 184 bệnh của 10 khoa lâm sàng. Tuệ Tĩnh đã để lại nhiều bộ sách quý cho đời sau nhƣ: “Tuệ Tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thập thất trùng pháp” [32]. Ở thế kỷ XVI, Lê Qúy Đôn xuất bản bộ “Vân đài loại ngữ” đã phân chia thực vật thành nhiều loại: cây cho hoa, cây cho quả, cây cho ngũ cốc, cay rau, cây loại mộc, cây loại thảo, cây mọc theo các mùa khác nhau.
Cũng dƣới thời này, Nguyễn Trứ đã nghiên cứu sâu hơn và viết tác phẩm “Việt Nam thực vật học” mô tả rất nhiều loại cây. Đặc biệt trong thời kỳ này, nổi bật lên nhƣ một ngôi sao sáng trong nền y học cổ truyền Việt Nam đó là danh y Lê Hữu Trác (1720 – 1791) Hải Thƣợng Lãn Ông (Hƣng Yên). Ông đã để lại một kho kinh nghiệm quý báu, đúc rút qua nhiều thế hệ của các nhà y học cổ truyền trong và ngoài nƣớc với bộ sách khổng lồ “Lãn Ông tâm lĩnh” sau đổi thành “Hải Thượng y tông tâm lĩnh” 28 tập, 66 quyển để phổ cập đào tạo thầy thuốc, lƣu truyền cho hậu thế [11].aspardone, nhà thƣ mục nổi tiếng ngƣời Pháp đã viết: “Có thể nói không quá đáng rằng Tuệ Tĩnh là người sáng lập thật sự ra nghề thuốc Việt Nam, về sau Hải Thượng Lãn Ông là người tuyên truyền rất có hiệu quả cho nghề này”[36]. Ngay sau khi đất nƣớc hoàn toàn giải phóng, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu trong nƣớc đã chú trọng sƣu tầm và phát hiện nguồn tài nguyên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 5 http://www.vn c cây thuốc.
Đi đầu trong đó là giáo sƣ, tiến sĩ Đỗ Tất Lợi. Ông là một trong những nhà hoạt động xuất sắc của y học khoa học hiện đại, ngƣời có khả năng bắc cầu giữa y học hiện đại với một trong những nền y học dân tộc Việt Nam [36]. Các công trình nghiên cứu của ông có tới hơn 70 bản đã xuất bản. Trong số đó đáng chú ý nhất phải kể đến bộ sách “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập (1962 – 1965).