Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam giữ vai trò thiết yếu trong việc cung ứng thực phẩm tiêu dùng nội địa và xuất khẩu, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người sản xuất. Để đáp ứng nhu cầu con giống cho các trang trại công nghiệp và hộ chăn nuôi, việc phát triển đàn lợn nái sinh sản năng suất cao là khâu then chốt. Tuy nhiên, các giống lợn nái ngoại nuôi tập trung theo mô hình công nghiệp thường có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng ẩm kém hơn lợn nội. Trong quá trình sinh nở, đường sinh dục mở tạo điều kiện cho các vi khuẩn cơ hội như Streptococcus, Staphylococcus, Escherichia coli xâm nhập, dẫn đến các bệnh nhiễm trùng sản khoa sau đẻ. Trong đó, viêm tử cung là bệnh lý phổ biến và gây ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến năng suất tái đàn. Nếu không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, bệnh sẽ kế phát thành hội chứng viêm vú - viêm tử cung - mất sữa (MMA), chậm sinh, vô sinh, thậm chí dẫn đến viêm phúc mạc, nhiễm trùng huyết và gây chết lợn mẹ.

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Thú y của sinh viên Vũ Xuân Biên (Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2016, người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thu Quyên) tập trung giải quyết bài toán kiểm soát bệnh lý này tại cơ sở chăn nuôi thực tế.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm 3 nội dung:

  1. Đánh giá tình hình chăn nuôi, vệ sinh phòng bệnh của trại.
  2. Xác định được tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
  3. Lựa chọn được phác đồ điều trị viêm tử cung hiệu quả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại sinh sản (gồm hai giống thuần ngoại là Landrace và Yorkshire).
  • Phạm vi không gian: Trại chăn nuôi lợn nái Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình.
  • Phạm vi thời gian: Từ ngày 18/11/2015 đến ngày 25/05/2016.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các tài liệu chuyên ngành sản khoa và bệnh học thú y:

  • Giải phẫu và sinh lý sinh dục lợn nái: Cấu tạo hình thái các cơ quan buồng trứng, ống dẫn trứng, tử cung (sừng tử cung dài 30 - 50 cm, cấu tạo cơ trơn dày), âm đạo và âm hộ; chu kỳ động dục kéo dài trung bình 21 ngày (dao động 18 - 22 ngày) gồm 4 giai đoạn: trước động dục (1 - 2 ngày), động dục (2 - 3 ngày), sau động dục (~2 ngày) và yên tĩnh (10 - 12 ngày); cơ chế điều hòa thần kinh - thể dịch thông qua trục dưới đồi - tuyến yên - buồng trứng (với các hormone FSH, LH, Estrogen, Progesterone); cơ chế sinh nở dưới tác động co bóp cơ học và suy giảm nồng độ Progesterone kết hợp với hormone Oxytocin và Relaxin.
  • Bệnh học viêm tử cung: Phân loại theo tổn thương mô bệnh học gồm viêm nội mạc tử cung (viêm cata cấp tính có mủ, viêm có màng giả), viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung; các nguyên nhân do thao tác thụ tinh nhân tạo, hỗ trợ đẻ khó, sát nhau, dinh dưỡng thiếu/thừa protein, mất cân bằng khoáng Ca/P và điều kiện vệ sinh chuồng nuôi.

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm lâm sàng và dịch tễ học thú y:

  • Phương pháp thu thập thông tin và chẩn đoán: Hồi cứu sổ sách theo dõi kỹ thuật của trại kết hợp quan sát trực tiếp lâm sàng lợn nái sau đẻ; kiểm tra thân nhiệt, tần số hô hấp, mức độ thu nhận thức ăn, phản xạ đau và tính chất sản dịch (màu sắc, mùi, thể trạng dịch viêm).
  • Tiêu chí phân loại lâm sàng: Phân chia thành 3 thể mức độ bệnh (Độ I, Độ II, Độ III) để làm căn cứ đánh giá và bố trí điều trị:
Thể viêm phân biệt Mức độ sốt Màu sắc dịch viêm Mùi dịch viêm Phản ứng đau Tình trạng ăn uống
Viêm nội mạc tử cung (Độ I) Sốt nhẹ Trắng, trắng xám Tanh Đau nhẹ Bỏ ăn một phần hoặc hoàn toàn
Viêm cơ tử cung (Độ II) Sốt nhẹ Hồng, nâu đỏ Tanh thối Đau rõ hơn Bỏ ăn hoàn toàn
Viêm tương mạc tử cung (Độ III) Sốt cao Nâu rỉ sắt Thối khắm Phản ứng đau rất rõ Bỏ ăn hoàn toàn
  • Phương pháp thử nghiệm điều trị: Áp dụng phương pháp phân lô so sánh trên tổng số lợn nái mắc bệnh được chẩn đoán, đảm bảo tính tương đồng về thể viêm và chế độ hộ lý giữa hai nhóm:
    • Phác đồ 1 (n = 56 con): Tiêm bắp Vetrimoxin L.A (hoạt chất Amoxycillin) liều 1 ml/10 kg thể trọng (tiêm 2 ngày/lần); kết hợp tiêm Oxytocin liều 5 ml/con vào mép âm môn; thụt rửa lòng tử cung bằng dung dịch Omnicide pha loãng 1/100 (2.000 - 2.500 ml/con), sau 30 phút bơm hỗn hợp kháng sinh gồm Penicillin 1.000.000 UI + Streptomycin 1 g hòa tan trong 50 ml nước cất. Liệu trình 2 ngày/lần, kéo dài 3 - 6 ngày.
    • Phác đồ 2 (n = 58 con): Tiêm bắp NOR 100 (hoạt chất Norfloxacin) liều 1 ml/20 - 25 kg thể trọng (tiêm 1 lần/ngày); kết hợp tiêm Oxytocin 5 ml vào mép âm môn; thực hiện quy trình thụt rửa Omnicide và bơm kháng sinh Penicillin + Streptomycin tương tự phác đồ 1. Liệu trình 1 lần/ngày, kéo dài 3 - 6 ngày.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Tính toán các chỉ tiêu tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi bệnh, thời gian điều trị, tỷ lệ động dục lại và tỷ lệ thụ thai theo phương pháp thống kê sinh vật học ứng dụng trong chăn nuôi (theo tài liệu của Nguyễn Văn Thiện, 2008) bằng phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu kiểm soát nhiễm trùng đường sinh dục trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung quy mô trang trại công nghiệp. Phần này xác định 3 mục tiêu cụ thể, nêu bật ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu dịch tễ học thú y tại huyện Yên Thủy (tỉnh Hòa Bình) và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp phác đồ điều trị chuẩn cho trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp có hệ thống cơ sở lý thuyết về giải phẫu hệ sinh dục lợn nái, sinh lý chu kỳ tính, cơ chế rụng trứng và sinh lý chuyển dạ đẻ. Đồng thời, tác giả phân tích chi tiết nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng và giải phẫu bệnh tích của từng dạng viêm tử cung (viêm cổ tử cung, viêm nội mạc, viêm cơ và viêm tương mạc tử cung). Phần dược lý trình bày cơ chế diệt khuẩn của Amoxycillin (Vetrimoxin L.A) và Norfloxacin (NOR 100). Tổng quan nghiên cứu trong nước trích dẫn các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Lưu (2004), Nguyễn Văn Thanh (2002, 2003 với tỷ lệ mắc 7,1% đến 42,4%), Trần Tiến Dũng (2004); tổng quan nước ngoài tổng hợp các công bố của Sobko và Gia Denko (1987), Madec và Neva (1995 với 15% - 50% nái viêm tử cung), Kaminski (16% nái viêm nội mạc tại Đức).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp thực hiện

Chương 3 mô tả cụ thể đàn lợn nái sinh sản tại trại Trần Văn Tuyên trong thời gian từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016. Tác giả chi tiết hóa các nội dung theo dõi: tỷ lệ mắc bệnh phân theo giống lợn, theo tháng nuôi, theo giai đoạn sinh sản và theo lứa đẻ; quy trình chẩn đoán phân biệt 3 thể bệnh (bảng 3.1); thiết kế bố trí thử nghiệm lâm sàng 2 phác đồ điều trị (bảng 3.2); các công thức tính tỷ lệ mắc, tỷ lệ khỏi, thời gian điều trị trung bình, tỷ lệ động dục lại và tỷ lệ đậu thai; công cụ xử lý số liệu thống kê.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Chương này gồm hai mảng nội dung chính:

  • Công tác phục vụ sản xuất tại cơ sở: Tác giả phản ánh quy trình vệ sinh phòng dịch, lịch sát trùng chuồng trại định kỳ trong tuần bằng vôi bột, Omnicide, Famsafe (bảng 4.1); lịch tiêm phòng 100% vắc xin cho đàn lợn (Circo, PRRS, SFV, FMD, AD, Parvo, Respi-sure - bảng 4.2). Bên cạnh đó, tác giả tổng kết kết quả chẩn đoán, can thiệp ngoại khoa và điều trị các bệnh phát sinh tại trại (bảng 4.3):
STT Nội dung công việc Số lượng theo dõi (con) Số lượng khỏi/an toàn (con) Tỷ lệ thành công (%)
1 Tiêm phòng vắc xin Lở mồm long móng (nái) 270 270 100,00
2 Điều trị bệnh tiêu chảy ở lợn con 215 208 96,74
3 Điều trị bệnh phân trắng lợn con 220 215 97,72
4 Điều trị bệnh viêm tử cung 114 100 87,71
5 Can thiệp hiện tượng đẻ khó 65 65 100,00
6 Phẫu thuật thoát vị bẹn (Hecni âm nang) 9 9 100,00
7 Phẫu thuật trực tràng lộn bít tất 4 3 75,00
8 Công tác xuất bán lợn con 2.400 2.400 100,00
9 Tiêm Dextran - Fe cho lợn con sơ sinh 200 200 100,00
10 Thiến lợn đực thương phẩm 120 120 100,00
11 Kỹ thuật thụ tinh nhân tạo 102 100 98,03

Quy trình chăm sóc dinh dưỡng được ghi nhận chi tiết: nái chửa dùng thức ăn hỗn hợp mã 566 SF (2 - 3,5 kg/con/ngày tùy tuần thai) và 567 SF (từ tuần 15); lợn con tập ăn sớm bằng mã thức ăn 550F. Can thiệp đẻ khó gồm hỗ trợ kéo thai cơ học và mổ đẻ (gây tê tại chỗ bằng Novocain 3% liều 50 ml, rạch đường mổ 15 - 20 cm bên hông phải, đặt kháng sinh Penicillin 2.000.000 UI + Streptomycin 4 g vào phúc mạc).

  • Kết quả thực hiện đề tài nghiên cứu:
    • Tỷ lệ mắc bệnh theo giống lợn (bảng 4.4): Theo dõi trên tổng số 350 lợn nái (165 nái Landrace và 185 nái Yorkshire), phát hiện 114 nái mắc bệnh viêm tử cung, chiếm tỷ lệ chung 32,57%. Trong đó, giống Landrace mắc 33,33% (55/165 con), cao hơn giống Yorkshire mắc 31,89% (59/185 con). Về mức độ bệnh trên toàn đàn, thể viêm nhẹ (Độ I) chiếm ưu thế với 55,26% (63 con); thể vừa (Độ II) chiếm 37,71% (43 con); thể nặng (Độ III) chiếm 7,01% (8 con).
    • Tỷ lệ mắc bệnh theo các tháng trong năm (bảng 4.5): Khảo sát từ tháng 12/2015 đến tháng 4/2016 cho thấy tỷ lệ mắc biến thiên theo tiểu khí hậu chuồng nuôi. Tháng 2 có tỷ lệ mắc thấp nhất với 5,40% (19/350 con) ứng với nhiệt độ chuồng 22,45°C và ẩm độ 77,41%. Tỷ lệ mắc cao nhất vào tháng 3 với 7,71% (27/350 con; nhiệt độ chuồng 25,82°C, ẩm độ 87,74%) và tháng 4 với 7,10% (25/350 con; nhiệt độ chuồng 27,07°C, ẩm độ 87,83%). Độ ẩm chuồng nuôi cao và thời tiết chuyển mùa tạo điều kiện cho vi khuẩn môi trường bùng phát xâm nhiễm.
    • Kết quả điều trị: Trên 114 nái mắc bệnh được đưa vào thử nghiệm hai phác đồ, số lợn được chữa khỏi hoàn toàn đạt 100 con, tương ứng tỷ lệ điều trị khỏi chung là 87,71%.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Khóa luận đúc kết các kết luận chính về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn nái ngoại của trại (32,57%), xác nhận tính khả thi của công tác điều trị bằng phác đồ kết hợp toàn thân và tại chỗ. Phần đề nghị khuyến nghị cơ sở duy trì nghiêm ngặt lịch sát trùng chuồng đẻ, kiểm soát khối lượng nái chửa tránh để quá béo gây đẻ khó và phổ biến phác đồ trị liệu hiệu quả vào quy trình thú y thường quy của trang trại.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp các kết quả thực nghiệm với số liệu cụ thể:

  • Xác định tỷ lệ nhiễm viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tại trại Trần Văn Tuyên đạt 32,57% (114/350 con). Trong đó, giống Landrace có độ mẫn cảm cao hơn giống Yorkshire (33,33% so với 31,89%).
  • Thống kê cơ cấu thể viêm: phần lớn lợn nái mắc bệnh ở thể viêm nội mạc tử cung - Độ I (chiếm 55,26%), tiếp đến là viêm cơ tử cung - Độ II (chiếm 37,71%) và thấp nhất là viêm tương mạc tử cung - Độ III (chiếm 7,01%).
  • Chỉ ra mối liên hệ giữa thời tiết và tỷ lệ phát bệnh: tỷ lệ mắc tăng cao vào các tháng có độ ẩm không khí trong chuồng cao trên 87% (tháng 3 đạt 7,71% và tháng 4 đạt 7,10%), thấp nhất vào tháng 2 (5,40%).
  • Đánh giá tổng kết công tác điều trị: toàn bộ 114 ca bệnh được điều trị theo 2 phác đồ đạt tỷ lệ khỏi bệnh chung 87,71% (100 con khỏi bệnh).
Chỉ tiêu dịch tễ / lâm sàng Giống Landrace Giống Yorkshire Toàn đàn theo dõi
Số nái theo dõi (con) 165 185 350
Số nái mắc bệnh viêm tử cung (con) 55 59 114
Tỷ lệ mắc bệnh (%) 33,33 31,89 32,57
Tỷ lệ viêm Độ I / tổng số mắc (%) 58,18 52,54 55,26
Tỷ lệ viêm Độ II / tổng số mắc (%) 36,36 38,98 37,71
Tỷ lệ viêm Độ III / tổng số mắc (%) 5,45 8,47 7,01

Đóng góp của tác giả thể hiện ở việc xây dựng và chuẩn hóa quy trình can thiệp sản khoa kết hợp: sử dụng thuốc co bóp tử cung (Oxytocin tiêm mép âm môn) nhằm tống xuất triệt để sản dịch và dịch mủ ứ đọng; tiến hành thụt rửa cơ học bằng chất sát trùng Omnicide (1/100); bơm trực tiếp hỗn dịch kháng sinh phổ rộng (Penicillin + Streptomycin) vào buồng tử cung kết hợp kháng sinh tiêm bắp toàn thân (Vetrimoxin L.A hoặc NOR 100). Quy trình này giúp hạ tỷ lệ nái bị loại thải do viêm mãn tính và vô sinh tại trại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi một trang trại chăn nuôi đơn lẻ (trại Trần Văn Tuyên) trong khung thời gian 6 tháng (từ tháng 11/2015 đến tháng 5/2016), do đó chưa phản ánh đầy đủ biến thiên dịch tễ của bệnh trong cả chu kỳ năm (đặc biệt là các tháng cao điểm nắng nóng mùa hè). Phương pháp chẩn đoán nguyên nhân gây bệnh dừng lại ở mức độ chẩn đoán triệu chứng lâm sàng và tính chất sản dịch, chưa thực hiện nuôi cấy, phân lập và làm kháng sinh đồ trong phòng thí nghiệm để xác định chính xác chủng vi khuẩn gây bệnh và mức độ kháng thuốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô nghiên cứu trên nhiều trang trại có phương thức chuồng nuôi khác nhau tại địa phương; kết hợp kỹ thuật vi sinh vật học để định danh các vi khuẩn phân lập từ tử cung lợn nái mắc bệnh; tiến hành thử nghiệm kháng sinh đồ nhằm tối ưu hóa lựa chọn kháng sinh và đánh giá chi tiết các chỉ tiêu sinh sản chu kỳ sau (khoảng cách lứa đẻ, số con sơ sinh sống/lứa) của đàn nái sau khi điều trị khỏi.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tham khảo chuyên môn hữu ích cho sinh viên đại học và học viên cao học ngành Thú y, Chăn nuôi - Thú y, cũng như kỹ sư chăn nuôi, kỹ thuật viên chỉ đạo tuyến tại các trại lợn giống ngoại.

Những nội dung có giá trị ứng dụng cao gồm:

  • Bảng tiêu chí lâm sàng phân biệt 3 thể viêm tử cung (Độ I, Độ II, Độ III) giúp nhận biết nhanh bệnh lý tại chuồng nuôi.
  • Chi tiết kỹ thuật của hai phác đồ điều trị thử nghiệm (nồng độ dung dịch thụt rửa, vị trí tiêm oxytocin mép âm môn, liều lượng kháng sinh đặt tại chỗ và kháng sinh tiêm bắp kéo dài).
  • Quy trình can thiệp sản khoa ngoại khoa thực tế (đỡ đẻ, chỉnh ngôi thai, kỹ thuật mổ đẻ khẩn cấp bảo tồn lợn mẹ, phẫu thuật thoát vị bẹn và lộn bít tất trực tràng).

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại Trần Văn Tuyên là bao nhiêu và có sự khác nhau giữa các giống lợn không?
Khảo sát trên tổng số 350 lợn nái ghi nhận 114 con mắc bệnh, chiếm tỷ lệ 32,57%. Giống Landrace có tỷ lệ mắc là 33,33% (55/165 con), cao hơn giống Yorkshire có tỷ lệ mắc là 31,89% (59/185 con). Sự khác biệt này được tác giả giải thích do giống Landrace có thể trạng phát triển nhanh hướng nạc, cấu trúc xương nhỏ hơn so với tỷ lệ thân và khả năng thích nghi khí hậu kém hơn Yorkshire.

2. Tiêu chí lâm sàng nào được sử dụng để phân biệt 3 mức độ viêm tử cung trong nghiên cứu?
Tác giả phân loại dựa trên 5 chỉ tiêu lâm sàng chính: mức độ sốt, màu sắc dịch viêm, mùi dịch viêm, phản xạ đau và trạng thái thu nhận thức ăn. Viêm Độ I sốt nhẹ, dịch trắng xám, mùi tanh, đau nhẹ; Viêm Độ II sốt nhẹ, dịch hồng/nâu đỏ, mùi tanh thối, đau rõ, bỏ ăn; Viêm Độ III sốt cao, dịch màu nâu rỉ sắt, mùi thối khắm, phản ứng đau dữ dội và bỏ ăn hoàn toàn.

3. Thành phần và kỹ thuật can thiệp của hai phác đồ điều trị được bố trí như thế nào?
Cả hai phác đồ đều phối hợp thụt rửa lòng tử cung bằng dung dịch Omnicide (1 ml pha trong 100 ml nước, dùng 2.000 - 2.500 ml/con), chờ 30 phút tống dịch ra ngoài rồi bơm hỗn hợp Penicillin 1.000.000 UI + Streptomycin 1 g + 50 ml nước cất, kết hợp tiêm 5 ml Oxytocin vào mép âm môn. Sự khác biệt nằm ở kháng sinh tiêm bắp toàn thân: Phác đồ 1 sử dụng Vetrimoxin L.A (Amoxycillin) tiêm bắp 1 ml/10 kg thể trọng (2 ngày tiêm 1 lần); Phác đồ 2 dùng NOR 100 (Norfloxacin) tiêm bắp 1 ml/20 - 25 kg thể trọng (ngày tiêm 1 lần), liệu trình kéo dài từ 3 đến 6 ngày.

4. Yếu tố tiểu khí hậu chuồng nuôi ảnh hưởng thế nào đến tỷ lệ mắc bệnh qua các tháng theo dõi?
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất vào tháng 2/2016 (5,40% với nhiệt độ chuồng 22,45°C, độ ẩm 77,41%) và tăng cao nhất vào tháng 3/2016 (7,71% với nhiệt độ chuồng 25,82°C, độ ẩm 87,74%) và tháng 4/2016 (7,10% với nhiệt độ chuồng 27,07°C, độ ẩm 87,83%). Độ ẩm không khí cao kết hợp nền nhiệt ấm lên tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn môi trường nhân lên và xâm nhập đường sinh dục sau đẻ.

5. Ngoài điều trị viêm tử cung, tác giả đã thực hiện các can thiệp lâm sàng và sản khoa ngoại khoa nào tại trại?
Tác giả đã tham gia điều trị tiêu chảy lợn con (khỏi 208/215 con, đạt 96,74%), phân trắng lợn con (khỏi 215/220 con, đạt 97,72%), can thiệp 65 ca đẻ khó bằng thủ thuật kéo thai và mổ đẻ lấy thai thành công 100%, phẫu thuật thành công 9 ca thoát vị bẹn (Hecni âm nang, đạt 100%) và phẫu thuật xử lý 4 ca trực tràng lộn bít tất (khỏi 3 ca, đạt 75%).

Kết luận

Khóa luận của Vũ Xuân Biên đã phản ánh sát thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn lợn nái ngoại nuôi tập trung tại huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình với tỷ lệ mắc 32,57%, chủ yếu tập trung ở thể viêm nội mạc tử cung nhẹ (55,26%). Đề tài đã thử nghiệm quy trình trị liệu kết hợp kháng sinh toàn thân, thuốc co bóp cơ trơn và thụt rửa sát trùng tại chỗ, mang lại hiệu quả điều trị khỏi bệnh chung đạt 87,71%. Các số liệu và quy trình kỹ thuật trong công trình cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ công tác quản lý dịch bệnh sinh sản và nâng cao năng suất đàn lợn nái ngoại tại các cơ sở chăn nuôi quy mô trang trại.