CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH NHÂN VIÊN 1. ĐÁNH GIÁ THÀNH TÍCH TRONG QUẢN TRỊ NGUỒN NHÂN LỰC 1. Quản trị nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một khái niệm mang tính tổng hợp các đặc tính số lượng và chất lượng về nguồn lực, được mô tả bởi quy mô và cơ cấu theo các đặc điểm giới tính, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngành nghề hay một đặc tính nào khác. Theo giáo trình quản trị nguồn nhân lực Trường Đại học kinh tế Đà Nẵng (2006) thì: Quản trị nguồn nhân lực là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tào và phát triển, thù lao, sức khỏe, an toàn nhân viên và tương quan lao động….
Trong đó đánh giá thành tích có vai trò khá quan trọng trong hoạt động quản trị nguồn nhân lực của tổ chức [14]. Đánh giá thành tích nhân viên a. Khái niệm nhân viên và đánh giá thành tích nhân viên - Khái niệm nhân viên: Là một người cụ thể đảm nhận một chức vụ hay vị trí công tác nào đó trong tổ chức. - Đánh giá thành tích nhân viên: Là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức cho một giai đoạn thời gian được đánh giá.
Thông tin phản hồi từ đánh giá thành tích sẽ giúp cho nhân viên biết mức độ thành tích của họ khi so sánh với tiêu chuẩn mà tổ chức đề ra. Đánh giá thành tích là quá trình có thể bị chi phối nhiều tình cảm; ảnh hưởng trực tiếp đến thái độ của nhân viên và chính bản thân họ.[14] Nếu sử dụng một cách không thích hợp, tiến trình đánh giá có thể có những tác động tai hại. Qua nhiều năm, một số lượng các nghiên cứu đã được 8 tiến hành cho một hệ thống đánh giá thành tích. Nghiên cứu này xem xét ai nên tiến hành đánh giá, phương pháp nào đánh giá tốt nhất, khi nào và mức độ thường xuyên mà đánh giá cần thực hiện, và mục đích nào mà thông tin đánh giá thành tích được sử dụng b.
Tầm quan trọng chiến lược của đánh giá thành tích nhân viên Đánh giá thành tích là tiến trình đánh giá những đóng góp của nhân viên cho tổ chức trong một giai đoạn. Thông tin phản hồi từ đánh giá thành tích sẽ giúp nhân viên biết được mức độ hoàn thành công việc của họ khi so sánh với tiêu chuẩn mà tổ chức đề ra. Đánh giá thành tích là một hoạt động rất quan trọng trong quản trị nguồn nhân lực. Trên thực tế, hầu hết các doanh nghiệp đều cố gắng thực hiện việc đánh giá thành tích thông qua và căn cứ trên những cơ sở sau: - Phân tích công việc, thiết kế bản mô tả công việc, xây dựng bản tiêu chuẩn thành tích công việc.
- Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá thành tích của nhân viên. - Đánh giá thành tích nhằm phục vụ cho việc khen thưởng, tăng lương, đào tạo, phát triển và đề bạt. Qui trình đánh giá thành tích và quản trị thành tích trong một doanh nghiệp là cơ sở quan trọng để bộ phận quản lý nguồn nhân lực vạch ra được chính sách liên quan đến nguồn nhân lực và tiến hành các quyết sách nguồn nhân lực. Đồng thời đây cũng là một cơ chế quan trọng để doanh nghiệp tiến hành đánh giá quá trình thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ chiến lược.
Cụ thể hơn, lợi ích mà đánh giá thành tích mang lại là: - Truyền đạt những mục tiêu chiến lược của tổ chức đến từng Phòng, Ban, cá nhân nhân viên. - Nhân viên được thông tin phản hồi về năng lực, hiệu suất làm việc của cá nhân họ. 9 - Công ty nắm bắt thông tin kịp thời để biết liệu công ty có thể đạt những mục tiêu chiến lược đã đặt ra. - Gắn kết mục tiêu phát triển tổ chức và phát triển cá nhân nhân viên.
- Tạo mối quan hệ chặt chẽ giữa lãnh đạo và nhân viên trong thực hiện công việc để đạt mục tiêu đã đề ra. Những yếu tố chính trong hệ thống đánh giá thành tích nhân viên - Xác định các mục tiêu chiến lược từ tầm nhìn của doanh nghiệp. - Xác định các mục tiêu đánh giá của các phòng ban, cá nhân xuất phát từ việc phân bổ các chỉ tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. - Sử dụng các tiến trình cốt lõi để xem xét mức độ đóng góp của các nhóm chức năng, các cá nhân vào việc đạt mục tiêu kinh doanh.
- Cần tạo được sự kết nối giữa kết quả đánh giá với các chương trình phát triển nhân viên, các chính sách khen thưởng nhằm tạo động lực, tăng cường những hoạt động phù hợp. Quá trình đánh giá thành tích thường được thực hiện bởi người quản lý trực tiếp. Tuy nhiên quá trình trên có thể được thực hiện bởi những người: - Biết rõ trách nhiệm và mục tiêu của công việc được đánh giá. - Có đủ thời gian quan sát quá trình thực hiện công việc của người được đánh giá.
- Có đủ kiến thức để phân biệt những biểu hiện của thái độ làm việc hiệu quả và không hiệu quả. Do đó, người lãnh đạo trực tiếp, đồng nghiệp, khách hàng đều có thể cung cấp thông tin cho quá trình đánh giá. Trên thực tế, đối với các công việc yêu cầu tính khách quan như dịch vụ khách hàng, chất lượng dịch vụ cần sử dụng những nguồn thông tin đa dạng trong quá trình thu thập dữ liệu đánh giá. Đối tượng đánh giá - Tự đánh giá Đây là phương pháp để nhân viên tự đánh giá họ thông qua một bảng tự đánh giá với nhiều tiêu chuẩn cụ thể đã được soạn thảo cẩn thận trước.
Nếu các nhân viên hiểu được mục tiêu và tiêu chuẩn hoàn thành công việc, họ sẽ có thể tự mình đánh giá việc hoàn thành công việc của mình. Nhân viên được yêu cầu xem xét tự đánh giá mình dựa trên các tiêu chuẩn đó bằng cách cho điểm theo thang điểm nhất định (thang 10 hoặc thang 100. Người giám sát nhân viên cũng đánh giá nhân viên bằng một bản đánh giá riêng, hai bản đánh giá này sẽ được sử dụng và hoà giải những ý kiến bất đồng. Phương pháp này có lợi là lôi cuốn sự chú ý của các nhà quản trị quan tâm đặc biệt đến việc phát triển nhân viên tham dự trong tiến trình quản trị, gọi là quản trị dự phần.
- Cấp trên trực tiếp Cấp trên trực tiếp đánh giá thành tích công tác của cấp dưới là một phương pháp phổ biến nhất. Trên thực tế, trong một cuộc nghiên cứu tại Mỹ, kết quả cho thấy 96% các công ty tiến hành theo phương pháp này. Có nhiều lý do tại sao các công ty áp dụng phương pháp này. Lý do thứ nhất là vì cấp quản trị trực tiếp biết rất rõ việc hoàn thành công việc của cấp dưới.
Lý do thứ hai là cấp quản trị trực tiếp có trách nhiệm quản trị đơn vị mình cho nên cần phải trực tiếp đánh giá nhân viên của mình. Sau cùng là vì đào tạo phát triển là một yếu tố quan trọng trong chương trình đánh giá là nhiệm vụ của cấp quản trị, do đó các chương trình đánh giá và phát triển nhân viên cần phải kết hợp chặt chẽ. Nhược điểm của phương pháp này là cấp trên trực tiếp có thể quá nhấn mạnh các khía cạnh thực hiện công việc của nhân viên mà bỏ qua các khía cạnh khác. Ngoài ra, các nhà quản trị này thường gắn liền với việc đánh giá với các quyết định tăng lương và thăng thưởng.
Trong các tổ chức kiểu dự án 11 hay ma trận, các nhà quản trị chức năng có rất ít cơ hội quan sát việc thực hiện của nhân viên cho nên không đủ cở sở để đưa ra những thông tin có giá trị, chuẩn xác. - Cấp dưới Exxon sử dụng hệ thống này và nó sử dụng hệ thống trong một số trường đại học. Một vài quản trị gia cấp cao ủng hộ việc sử dụng cấp dưới đánh giá các nhà quản trị của họ. Họ cho rằng những nhân viên cấp dưới sẽ là người có sự đánh giá xác đánh nhất về tính hiệu quả trong các hoạt động của cấp trên.
Với cách tiếp cận này người ta tin rằng cấp trên sẽ tận tâm hơn đối với các nhu cầu của cấp dưới và làm tốt hơn công việc quản lý thuộc phần hành của mình. Tuy nhiên hoặc là nhân viên lo ngại việc trả đũa. Để cho cách tiếp cận này thành công, việc dấu tên người đánh giá phải được đảm bảo, đây là một công việc khó khăn, đặc biệt là trong các phòng ban nhỏ. Nhược điểm của phương pháp này là cấp trên dễ có khuynh hướng xuề xoà, bình dân hoá và dễ dãi với cấp dưới để làm vừa lòng.
- Đồng nghiệp Những người ủng hộ tin rằng việc này không đưa đến hậu quả tranh thủ lẫn nhau. Họ cho rằng đồng nghiệp đánh giá lẫn nhau có thể tin cậy được nếu nhóm công tác ổn định trong một thời gian dài, và việc hoàn thành công việc đòi hỏi sự tác đông qua lại của các nhân viên. Được cổ vũ bởi khái niệm quản trị chất lượng toàn diện, các nhà quản trị đang gia tăng sử dụng các nhóm làm việc cả cung cách làm việc truyền thống và tự quản. Vì vậy có khả năng là tỷ lệ nhóm làm việc sẽ ngày một gia tăng.
Đánh giá nhóm làm việc có một vài thuận lợi sau đây. + Các thành viên trong nhóm hiểu rõ thành tích thực hiện của người khác hơn ai hết. + Áp lực đồng nghiệp là động cơ thúc đẩy mạnh mẽ. Biết được sự đánh 12 giá của đồng nghiệp có thể gia tăng sự đóng góp và hiệu suất làm việc của các thành viên trong nhóm.
Bởi vì kết quả đánh giá liên quan đến nhiều ý kiến của cá nhân do đó phỏng vấn đồng nghiệp tránh được tình trạng phụ thuộc vào đặc tính của từng cá nhân. Khó khăn của đánh giá đồng nghiệp là nó đòi hỏi phải mất nhiều thời gian và rất khó phân biệt giữa sự đóng góp của cá nhân và của cả nhóm. Thêm vào đó một vài thành viên trong nhóm có thể cảm thấy không thoải mái, hài lòng việc đánh giá những người cùng hợp tác với họ trong thực hiện công việc. - Đánh giá hội đồng Đánh giá hội đồng là sử dụng một nhóm hay hai ba nhà quản trị quen biết hoặc có quan hệ công việc với nhân viên để đánh giá người đó.