Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Lúa cạn được trồng trên đất dễ rút nước, không bị ngập, không có bờ bao và nhờ vào nước trời. Đặc tính nổi bật của lúa cạn là năng suất thấp và được trồng bởi nhiều nông dân nghèo trên các loại đất kém màu mỡ ở hầu hết những vùng núi cao. Năng suất bình quân của các giống lúa này rất thấp chỉ vào khoảng hơn 1 tấn/ha.
Trong bốn thập niên qua, đầu tư vào khảo cứu và phát triển loại lúa này khá nhiều trên Thế giới nhưng các thành quả chưa được tương xứng và diện tích trồng lúa cạn tổng thể đang giảm dần. Điều này có nghĩa là các kỹ thuật tạo ra từ các cuộc nghiên cứu chưa thích ứng với tình trạng kinh tế - xã hội của người nông dân bản địa (Vũ Tiến Hoàng, 1995) [11]. Chiến lược sử dụng nguồn vật liệu bản địa đang được khuyến khích đối với các loại cây trồng, đặc biệt là những tính trạng như tính chống chịu khô hạn, chống chịu mặn, v. Chọn tạo giống lúa thích nghi với kỹ thuật canh tác tiết kiệm nước hoặc chống chịu khô hạn là nhu cầu cấp bách.
Bên cạnh đó, nguồn vật liệu bản địa còn được sử dụng làm nhiệm vụ kết hợp lai xa, lai khác loài hoặc khai thác tính trạng thơm ngon từ giống cổ truyền vào giống cao sản. Trong công tác chọn tạo giống cây trồng và vật nuôi nói chung cũng như chọn tạo giống lúa nói riêng, mục tiêu của nhà tạo giống là khai thác tính đa dạng di truyền hay những biến dị có lợi của nguồn gen hiện có trong tự nhiên hoặc được tạo mới bằng các phương pháp nhân tạo. Ở cây lúa là một tập hợp nguồn gen quý tương ứng với nhiều hệ sinh thái lúa khác nhau và hình thành hệ sinh thái lúa cạn, lúa nước sâu, lúa chịu mặn,. Dựa vào đặc tính biến dị và di truyền này mà con người không ngừng thành công trong công tác lai tạo và chọn lọc giống cây trồng, nhiều n 14 kiểu gen mới cho năng suất cao, chống chịu và phẩm chất tốt đã được chọn tạo.
Khái niệm về lúa cạn Trên Thế giới, các nhà khoa học đã có nhiều khái niệm về cây lúa cạn như: Chang T. và Bardenas (1965) [24] cho rằng: "Lúa cạn là loại lúa được gieo hạt trên các loại đất khô, có thể là đất dốc hoặc đất bằng phẳng nhưng không có bờ, khiến cây lúa sống phụ thuộc hoàn toàn vào độ ẩm do nước mưa cung cấp".P (1984) [25] thì lúa cạn được coi là lúa trồng trong mùa mưa trên đất cao, đất thoát nước tự nhiên, trên những chân ruộng được đắp bờ hoặc không có bờ và không có lượng nước dự trữ thường xuyên trên bề mặt. Lúa cạn được hình thành từ lúa nước, nhờ quá trình thích ứng với những vùng trồng lúa thường gặp hạn mà xuất hiện những biến dị chịu hạn ngày càng cao. Vì vậy, giống lúa cạn có khả năng sinh trưởng bình thường khi ở ruộng nước.
Theo Michael Aurodau tại Hội thảo "Lúa rẫy ở Cao Bằng, Việt Nam", từ ngày 9 - 11/3/1994 và theo định nghĩa tại Hội thảo tại Bouake, Bờ biển Ngà thì lúa cạn là loại lúa được trồng trong điều kiện mưa tự nhiên, đất thoát nước, không có sự tích nước trên bề mặt, không được cung cấp nước và không có bờ. Các nhà chọn giống Việt Nam cũng khái niệm về lúa cạn tương tự như trên. Tác giả Bùi Huy Đáp (1978) [3] định nghĩa: “Lúa cạn là loại lúa gieo trồng trên đất cao như là các loại hoa màu trồng cạn khác, không tích nước trong ruộng và hầu như không bao giờ được tưới thêm. Nước cho lúa chủ yếu do nước mưa cung cấp hay được giữ lại trong đất”.
Theo Nguyễn Gia Quốc (1994) [16] thì lúa cạn được chia làm 2 dạng: - Lúa cạn thực sự (lúa rẫy, Dry rice hoặc Upland rice): là loại lúa n 15 thường được trồng trên các triền dốc của đồi núi, không có bờ ngăn và luôn luôn không có nước. Cây lúa hoàn toàn sử dụng lượng nước mưa ngấm trong đất để sinh trưởng và phát triển. - Lúa cạn không hoàn toàn (lúa nước trời, Rainfed upland rice): là loại lúa trồng ở triền thấp, không có hệ thống tưới tiêu chủ động, cây lúa sống hoàn toàn bằng nước mưa tại chỗ, nước mưa có thể dự trữ trên bề mặt ruộng để cung cấp cho cây lúa. Sự phân bố của cây lúa cạn Lúa cạn được trồng chủ yếu trên ba lục địa là châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh.
Theo Trần Nguyên Tháp (2001) [20], môi trường trồng lúa cạn trên Thế giới được chia thành 4 loại: - Vùng đất cao, màu mỡ, mùa mưa kéo dài (kí hiệu LF) ở Đông và Tây Nam Ấn Độ, Inđônêsia, Philippin, Băng La Đét, Braxin, Côlômbia. - Vùng đất cao, kém màu mỡ, mưa dài (LU) ở Thái Lan, Myanma, Lào, Cămpuchia, vùng Đông Bắc Ấn Độ, Việt Nam, Bôlivia, Mêxicô. - Vùng đất cao, màu mỡ, mưa ngắn (SF) - Vùng đất cao, kém màu mỡ, mưa ngắn (SU) ở một số nước Tây Phi. Ở Việt Nam, Vũ Tuyên Hoàng, Trương Văn Kính và Ctv… (1995) [12] đã phân vùng lúa cạn theo loại hình đất trồng ở nước ta như sau: - Đất rẫy (trồng lúa rẫy): nằm ở các vùng trung du miền núi phía Bắc, miền Trung, Tây Nguyên và một phần của Đông Nam Bộ.
- Đất lúa thiếu nước hoặc bấp bênh về nước (trồng lúa nhờ nước trời): nằm rải rác ở các vùng đồng bằng, trung du, đồng bằng ven biển Đông và Nam Bộ, kể cả đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu long, kể cả diện tích đất bằng phẳng nhưng không có hệ thống thuỷ nông n 16 hay hệ thống thuỷ nông chưa hoàn chỉnh vẫn nhờ nước trời hoặc có một phần ít nước tưới, ruộng ở vị trí cao thường xuyên mất nước. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới và ở Việt Nam 1. Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới 1. Tình hình sản xuất lúa nước Diện tích canh tác lúa trên Thế giới trong vài thập kỷ gần đây có xu hướng tăng, song tăng mạnh nhất vào những thập niên 90 của thế kỷ XX và có xu hướng ổn định từ những năm đầu của thế kỷ XXI và đạt 164 triệu ha năm 2011.
Về năng suất của lúa cũng tăng dần qua các năm và tăng nhanh nhất vào thập niên 90. Từ thập niên 90 và những năm đầu của thế kỷ XXI năng suất lúa tăng chậm lại song nhìn chung năng suất tăng gần gấp đôi từ 27,48 tạ/ha năm 1980 lên 43,82 tạ/ha vào năm 2011. Sản lượng lúa Thế giới tăng từ 396,8 triệu tấn năm 1980 lên trên 721 triệu tấn năm 2011.1: Tình hình sản xuất lúa trên Thế giới trong vài thập kỷ gần đây Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (Nghìn ha) (tạ/ha) (Nghìn tấn) 1980 144.034 (Nguồn: FAO STAT năm 2012) [37] Theo FAO sản lượng lúa Thế giới năm 2011 đạt gần 722 triệu tấn (tương đương 480,4 triệu tấn gạo) so với 466,6 triệu tấn gạo năm 2010, n 17 tăng 2,9%. Sản lượng tăng cao do mở rộng diện tích canh tác lên đến 164 triệu ha và được mùa ở nhiều Quốc gia như: ở châu Á sản lượng lúa đạt 653 triệu tấn do được mùa ở Pakistan, Campuchia, Nepal, Philippines và Việt Nam hay mở rộng diện tích canh tác ở Bangladesh, Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan và Việt Nam.
Tại châu Phi sản lượng cũng đạt 25,5 triệu tấn do được mùa ở Ai Cập, Guinea, Nigeria. Châu Mỹ la tinh và vịnh Caribean cũng được mùa ở các nước ngoại trừ Ecuador và Peru. Kim ngạch xuất khẩu gạo của các nước trên Thế giới đạt 34,5 triệu tấn vào năm 2011, tăng 3 triệu tấn so với năm 2010. Các nước có sản lượng và xuất khẩu lúa gạo cao nhất đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, Việt Nam, Thái Lan, Brazil, Mỹ và và Pakistan.
Một số nước có sản lượng và xuất khẩu cao trên Thế giới Sản lượng (triệu tấn) Xuất khẩu (triệu tấn) Quốc gia 2010 2011 2010 2011 Thế giới 466,6 480,4 31,5 34,5 Trung Quốc 134 137 0,6 0,7 Ấn Độ 89,1 94,1 2,1 3,8 Indonesia 43,2 44,3 - - Việt Nam 25,9 26,6 6,9 7,2 Thái Lan 21,3 20,9 9 10,5 Brazil 8,6 8 0,4 1 Mỹ 7,6 6,8 3,9 3,4 Pakistan 6,9 5,5 3,8 3,0 (Nguồn: FAO & USDA năm 2012)[37] Trung Quốc là quốc gia có sản lượng cao nhất đạt 137 triệu tấn vào năm 2011 tăng 3 triệu tấn so với năm 2010. Tiếp theo là Ấn Độ và Indonesia, Việt Nam đứng thứ 4 về sản lượng đạt 25,9 triệu tấn vào năm 2010 và 26,6 triệu tấn vào năm 2011. Quốc gia có khối lượng gạo xuất n 18 khẩu nhiều nhất là Thái Lan 10,5 triệu tấn, Việt Nam đứng thứ 2 với 7,2 triệu tấn. Tình hình sản xuất lúa cạn Lúa cạn là một trong những cây trồng lâu đời nhất trên Thế giới.
Trước đây, diện lích gieo trồng lúa cạn rất lớn nhưng trong hai thập niên 1980 và 1990, diện tích lúa cạn Thế giới giảm từ 20 triệu ha xuống 15 triệu ha, hay giảm gần 25%. Theo số liệu FAO năm 2011 diện tích canh tác lúa của Thế giới là 164 triệu ha, trong đó châu Á có 148,7 triệu ha thì có 68,1 triệu ha chiếm 45,8% thường bị thiên tai đe dọa, có 55,5 triệu ha thường bị thiếu nước chiếm 37,4%, trong số này 19,16 triệu ha là đất cạn (lúa rẫy - upland rice), 36,4 triệu ha đất hoàn toàn nhờ nước trời (rainfed rice), đất ngập nước chiếm 12,5 triệu ha. Năng suất lúa ở vùng đất khó khăn đạt 0,8 - 1,7 tấn/ha, chỉ bằng 20 - 40% năng suất lúa của vùng chủ động nước. Các giống lúa gieo cấy trên vùng này phần lớn là giống địa phương có đặc điểm dài ngày, cao cây, chống đổ kém, năng suất thấp nhưng chất lượng gạo ngon.
Vào những năm cuối thế kỷ 20 toàn Thế giới trồng 19,1 triệu ha lúa cạn chiếm 13,2% diện tích trồng lúa thế giới. Trong đó, châu Á trồng 10,7 triệu ha, 6,1 triệu ha ở Mỹ La Tinh và 2,3 triệu ha ở châu Phi. Tỷ lệ lúa cạn ở Mỹ La Tinh chiếm tới 75% và châu Phi là 50%. Năng suất trung bình của lúa cạn trên 1 tấn/ha những nơi thuận lợi có thể đạt 2,5 tấn/ha (IRRI,1986) [27].
Ở châu Á, khoảng 50% đất trồng lúa là canh tác nhờ nước trời và mặc dù năng suất lúa ở những vùng có tưới đã tăng gấp 2 - 3 lần 30 năm trước đây nhưng ở vùng canh tác nhờ nước trời năng suất tăng lên ở mức rất nhỏ, bởi vì những vùng này việc sử dụng những giống lúa cải tiến rất khó khăn do môi trường không đồng nhất và biến động (Kwan Chai A.