Đặt vấn đề Chăn nuôi lợn chiếm một vị trí quan trọng trong ngành chăn nuôi. Phát triển chăn nuôi lợn tạo ra nhiều sản phẩm cung cấp cho nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu đang được chú trọng để đáp ứng xu thế hội nhập của nước ta. Theo thống kê của Tổng cục thống kê, năm 2011 cả nước có 27,09 triệu con, năm 2012 còn 26,54 triệu con giảm 2,1% so với năm 2011, đến năm 2013 đàn lợn cả nước chỉ còn 26,3 triệu con giảm 0,9% so với năm 2012 nhưng vào thời điểm cuối năm giá lợn lại tăng cao, đây là dấu hiệu cho thấy cơ hội để số lượng đàn lợn lại có thể tăng lên trong những năm tới. Ngoài việc tăng số lượng lợn thịt thì chất lượng thịt cũng được nâng cao thể hiện ở tỷ lệ nạc từ 33,6% ở lợn nội lên 40,6%, và đạt 52-56% đối với các công thức lai 3/4 và 7/8 máu ngoại.
Riêng tỉnh Bắc Kạn, là một địa phương miền núi, chăn nuôi lợn còn kém phát triển, năm 2010 cả tỉnh nuôi được 190.146 con lợn nhưng do năng suất chăn nuôi thấp nên sản lượng thịt hơi chỉ đạt 9609 tấn (Niên giám thống kê tỉnh Bắc Kạn, 2010. Về cơ cấu giống, ngoại trừ một số cơ sở chăn nuôi tập trung và một số hộ chăn nuôi quy mô nhỏ các giống lợn năng suất cao ở khu vực thị xã hoặc huyện lỵ, hầu hết là chăn nuôi nhỏ quy mô hộ gia đình với giống địa phương năng suất thấp trên quan điểm tận dụng nguồn thức ăn sản xuất tại chỗ, đặc biệt là nguồn thức ăn thô xanh, sản phẩm phụ chế biến nông sản. Cây dong riềng là một loại cây lấy củ có giá trị kinh tế cao, có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau mà vẫn cho năng suất cao, do đó cây dong riềng được đồng bào nhiều địa phương miền núi quan tâm phát triển. Riêng đối với tỉnh Bắc Kạn, trong vài năm trở lại đây, cây dong riềng được chọn là cây xóa đói, giảm nghèo và làm giàu hiệu quả.
Năm 2012, tỉnh Bắc Kạn trồng được 1.840 ha cây dong riềng, năm 2013 tăng lên tới tới 2.899 ha với năng xuất trung bình đạt 50-70 tấn/ha. Nguồn thu nhập từ trồng và chế biến dong củ đã n 15 có ý nghĩa to lớn cải thiện các điều kiện dân sinh kinh tế một số địa phương trong tỉnh có gắn với cây trồng này. Để chế biến củ dong riềng toàn tỉnh hiện có 27 đơn vị, doanh nghiệp và hàng chục Hợp tác xã (HTX) làng nghề làm miến dong, như vậy mỗi năm lượng bã dong thải ra lên đến hàng chục nghìn tấn. Tuy nhiên, lượng bã này chỉ mới được tận thu rất ít làm thức ăn chăn nuôi (lợn, ngan, ngỗng…) mặc dù bã thải còn chứa đựng nhiều chất dinh dưỡng quý mà vật nuôi có thể sử dụng.
Số còn lại bị bỏ thối làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm và ô nhiễm mặt đất cũng như bầu không khí làng nghề trong khi hoạt động chăn nuôi ở khu vực này lại thiếu thức ăn. Năm vừa qua, tình hình chăn nuôi cả nước gặp khó khăn do giá lợn hơi thấp trong khi giá thức ăn chăn nuôi từ các nhà sản xuất ngày càng tăng cao, giá thành sản phẩm không ổn định, dẫn đến hạn chế tăng trưởng của ngành chăn nuôi nước ta. Cần phải nghiên cứu tìm kiếm nguồn thức ăn thay thế, nhất là nguồn thức ăn tại chỗ để giảm chi phí vận chuyển. Nguồn bã dong riềng từ các cơ sở chế biến và làng nghề làm miến dong là đối tượng thức ăn nguyên liệu mới cần được quan tâm nghiên cứu để tận dụng làm thức ăn chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng.
Mặt khác, nghiên cứu sử dụng bã dong riềng làm thức ăn cũng là giải pháp tích cực để chống ô nhiễm môi trường làng nghề do tình trạng bã dong riềng thối hỏng gây ra. Từ những lý do trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Đánh giá khả năng và thử nghiệm giải pháp xử lý vi sinh bã dong riềng ở Bắc Kạn làm thức ăn cho lợn địa phương”. Mục tiêu đề tài là: - Bước đầu đánh giá được khả năng của nguồn bã thải bã dong riềng ở Bắc Kạn có thể tận dụng đưa vào chăn nuôi lợn. - Xác định được công thức xử lý vi sinh bã dong riềng có giá trị tốt nhất để áp dụng làm thức ăn nuôi lợn địa phương.
Tổng quan tài liệu 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động tiêu hóa của lợn Tác giả Trần Văn Phùng và cs, (2004) [7] có viết: Có nhiều yếu tố ảnh n 16 hưởng đến hiệu quả của quá trình tiêu hóa, trong đó có các yếu tố như thức ăn dinh dưỡng, kỹ thuật chế biến, kỹ thuật cho ăn, yếu tố thời tiết, khí hậu. - Loại thức ăn Các loại thức ăn khác nhau có ảnh hưởng không giống nhau đến quá trình tiết dịch tiêu hóa.
Thức ăn nhiều nước sẽ làm giảm tiết nước bọt và dịch vị. Theo tác giả Trần Cừ, (1975) [ 2] nếu cho lợn ăn 3 loại thức ăn cám gạo, khoai lang củ và rau muống thì cám gạo có tác dụng tăng tiết dịch vị nhiều nhất, còn nếu chúng ta pha thức ăn với nước theo tỷ lệ 1:3 thì nước bọt hầu như không tiết. - Kỹ thuật chế biến Kỹ thuật chế biến thức ăn khác nhau (như lên men, ủ chua, rang chín.) thì khả năng tiết dịch tiêu hóa khác nhau. Thức ăn rang chín gây tiết nhiều dịch vị hơn thức ăn không rang chín.
Cho lợn ăn thức ăn sống thì dịch vị và dịch ruột cũng như hoạt lực của các men cao hơn thức ăn chín. Khi thêm gia vị vào thức ăn (như muối, mắm tôm.) có ý nghĩa lớn với việc tiêu hóa. - Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần Khi khẩu phần thức ăn kém cân bằng sẽ gây ra hoạt động kém căng thẳng của cơ quan tiêu hóa, từ đó dẫn tới đồng hóa thức ăn. Như khẩu phần có lượng protein thấp, lúc đó sẽ làm tăng hoạt động của cơ quan tiêu hóa, làm thải nhiều nitơ theo dịch tiêu hóa để tạo nên nhũ chấp có tỷ lệ thành phần các chất nhất định, dẫn đến làm tăng cao tương đối lượng nước trao đổi theo phân và làm cho lợn bị thiếu protein.
Đồng thời khi lượng protein trong khẩu phần thấp sẽ dẫn tới giảm tiết dịch tụy và dịch dạ dày rõ rệt. Theo Epseva thì khi khẩu phần có lượng protein thấp, lượng dịch tụy tiết ra là 3225ml, mức protein trung bình thì lượng dịch tụy tiết ra là 4400ml, nhưng khi mức protein cao, lượng dịch tụy tiết ra càng nhiều để tăng cường tiêu hóa protein. Ngược lại khi khẩu phần có mức protein cao thì lợn không dùng hết, lượng thừa sẽ bị vi khuẩn ruột già phân hủy gây thối làm tăng mức độ ô nhiễm môi trường mà lại gây lãng phí protein. Với chất xơ: lợn là loài vật nuôi có khả năng tiêu hóa xơ cao, nhất là các giống lợn nội đã hình thành kiểu trao đổi chất từ nền thức ăn thực vật là chính trong quá trình thích nghi với phương thức chăn nuôi chăn thả tự nhiên, tự tìm n 17 kiếm thức ăn là chính.
Xơ trong khẩu phần không chỉ là điều kiện cần để giữ nhu động bình thường của đường tiêu hóa mà còn cần thiết để lợn có cảm giác no sinh lý. Mặt khác xơ cũng là nguồn dinh dưỡng của lợn vì hệ vi sinh vật ruột già có khả năng chuyển hóa xơ thành chất dinh dưỡng cần thiết cho lợn. Mức xơ bình thường trong khẩu phần được xác định cho lợn giống địa phương là 4-6% tùy giai đoạn sinh trưởng. Trong điều kiện chăn thả tự nhiên, lợn có thể ăn mức xơ cao hơn nhiều trong thực tế.
- Phương pháp cho ăn, uống Cách cho lợn ăn cũng làm ảnh hưởng đến sự tiêu hóa thông qua lượng dịch tiêu hóa tiết ra bị thay đổi. Nếu cho lợn ăn nhiều bữa và cho ăn thức ăn khô sẽ làm tăng tiết dịch tiêu hóa.Xinhexecop, lợn được ăn 5 bữa trong 24 giờ lượng dịch vị sẽ tăng được 79,43% và lượng dịch tụy sẽ tăng 35,2% so với lợn chỉ được ăn 3 bữa. Số lượng thức ăn một bữa (đặc biệt là lợn con) cũng có tác dụng làm hưng phấn hoạt động tiêu hóa, làm tăng tiết dịch tiêu hóa và kết quả là làm tăng tỷ lệ tiêu hóa thức ăn. Ngoài ra, nhiệt độ thức ăn và nước uống cho lợn cũng ảnh hưởng tới sự tiết dịch tiêu hóa.Bakeeva lợn sau khi ăn uống nước có nhiệt độ 5 - 80C thì lượng dịch tiêu hóa tiết ra chỉ bằng 20% so với lợn được uống nước ở nhiệt độ thường 20 - 250C.
- Các yếu tố khác Ngoài các yếu tố liên quan đến thức ăn đã trình bày ở trên ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa ở lợn thì các yếu tố về điều kiện môi trường cũng ảnh hưởng đến sinh lý tiêu hóa ở lợn. Khi nhiệt độ môi trường cao vào mùa hè, cần chống nóng cho lợn, vì khi nóng hoạt động tiêu hóa bị ức chế, sự tiết dịch tiêu hóa giảm. Vận động không những làm tăng tính thèm ăn mà còn thúc đẩy sự phát triển của cơ quan vận động, tăng cường hoạt động tuần hoàn máu và trao đổi chất, từ đó làm tăng khả năng tiêu hóa thức ăn. Vỏ não có tác dụng rất lớn đối với hoạt động tiêu hóa.
Cho nên cần thành lập các phản xạ có điều kiện để nâng cao chức năng tiêu hóa như tập cho lợn con ăn đúng giờ giấc, có thể dùng tín hiệu để báo chuẩn bị cho ăn. Đặc điểm cơ bản về sinh lý tiêu hóa của lợn Để nâng cao khả năng sinh trưởng, năng suất và hiệu quả chăn nuôi lợn thịt, bên cạnh các biện pháp chọn giống, lai tạo giống thì việc tìm hiểu, nắm bắt các đặc điểm sinh lý tiêu hóa của lợn để tác động các biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, chế biến thức ăn. là một vấn đề quan trọng. Ta biết rằng lợn là loài gia súc ăn tạp, dạ dày của chúng có cấu tạo trung gian giữa dạ dày đơn và dạ dày kép.
Trong quá trình phát triển các đặc điểm cấu tạo và chức năng của dạ dày lợn hoàn thiện dần ngay từ trong bào thai và tiếp tục phát triển cho đến ra ngoài môi trường. Bộ máy tiêu hóa của lợn bao gồm: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già. Ở miệng nước bọt tiết ra có men tiêu hóa amilaza để tiêu hóa tinh bột, vì lợn ăn nhanh, nuốt liên tục nên tiêu hóa ở miệng rất ít, chủ yếu là tẩm ướt thức ăn rồi đẩy xuống dạ dày, ruột để tiêu hóa.