Đặt vấn đề Trong nước Việt nam là một trong những quốc gia trên thế giới có nghề nuôi trồng thủy sản phát triển và cũng là nước có lịch sử nuôi trồng thủy sản lâu đời. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử cho đến nay nuôi trồng thủy sản đã trở thành một bộ phận quan trọng đóng góp không nhỏ cho nền kinh tế quốc dân (giá trị sản xuất thủy sản theo giá phan theo ngành nuôi hoạt động sơ bộ năm 2013 đạt 239976,7 tỉ đồng (tổng cục thống kê năm 2013). Đóng góp không nhỏ trong hoạt động xuất khẩu nông sản nước ta. Theo thống kê của Hải quan Việt Nam, tính đến 15/11/2014 xuất khẩu thủy sản đạt gần 7 tỉ USD.
Ngoài ra, nuôi trồng thủy sản góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và tạo được nhiều công ăn việc làm, có ý nghĩa xã hội to lớn. Việt Nam có đường bờ biển dai 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1triệu km2 với hơn 4000 hòn đảo nhỏ tạo nên nhiều eo, vịnh, vụng, đầm phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng sản phẩm thủy sản của con người, ngoài hoạt động đánh bắt thủy hải sản ra thì hoạt động nuôi trồng thủy hải sản là một phương thức hữu hiệu để đáp ứng nhu cầu này. Một trong những hình thức nuôi trồng thủy sản có hiệu quả là nuôi cá lồng bè.
Mô hình nuôi cá lồng đã phát triển từ lâu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long nhưng lại rất mới mẻ đối với các tỉnh duyên hải miền Trung. Sự phát triển của các ngành nuôi cá nước ngọt nói chung và cá lồng nói riêng đã đang và sẽ mở ra lối đi mới cho sự phát triển kinh tế của nhiều địa phương trên cả nước. Địa phương Thị xã Mường lay thuộc Tỉnh Điện Biên nơi có con sông Đà chảy qua người dân ở đây đã biết tận dụng lợi thế được thiên nhiên ưu đãi này để phát triển nghề nuôi cá lồng. Hiện tại xã có 200 lồng cá nuôi, nuôi cá lồng đã đem lại nguồn thu nhập đáng kể và đồng thời tạo công ăn việc làm cải thiện đời sống cho người dân nơi đây.
Tuy nhiên hoạt động nuôi cá lồng trên sông Đà cũng đã gây ra rất nhiều hiệu quả xấu về môi trường, nguồn nước sông Đà ngày càng ô nhiễm, tiềm ẩn nguy c 2 cơ dịch bệnh xảy ra gây ảnh hưởng không ít đến hoạt động nuôi cá lồng trong những năm gần đây. Xuất phát từ tình hình trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi cá lồng của các hộ gia đình ở địa phương tại tổ 5 phường Na Lay - Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên" làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu 1. Mục tiêu chung Đánh giá được hiệu quả kinh tế, phân tích được tình hình và hiệu quả kinh tế chăn nuôi cá lồng của các hộ dân trên địa bàn TXML, tỉnh Điện Biên qua đó nhằm đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao và phát triển, sản xuất mô hình nuôi cá lồng, phục vụ và nâng cao đời sống, thu nhập cho các hộ nông dân.
Mục tiêu cụ thể - Đánh giá thực trạng, kết quả, hiểu quả của mô hình nuôi cá lồng tại Thị xã Mường Lay, tỉnh Điện Biên. - Phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả nghề nuôi cá lồng. - Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá lồng. - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nuôi cá lồng ở nước ta.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1. Đối tượng nghiên cứu - Những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển nuôi cá lồng ở địa bàn thị xã ML, tỉnh Điện Biên. - Đối tượng điều tra: Các hộ gia đình nuôi cá lồng, các tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cho nuôi cá lồng ở địa phương. Phạm vị nghiên cứu 1.
Phạm vi về nội dung Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển nuôi cá lồng. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển nuôi cá lồng, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm phát triển nuôi cá lồng ở TXML, tỉnh Điện Biên đạt hiệu quả cao trong những năm tới. Phạm vi về không gian Đề tài nghiên cứu trên địa bàn thị xã Mường lay, tỉnh Điện Biên 1. Phạm vi về thời gian + Thời gian thu thập số liệu thứ cấp từ năm 2016 - 2018 và số liệu điều tra tại các hộ nông dân, cán bộ các ngành có liên quan.
+ Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 8/2018 đến tháng 1/2019 1. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu này được tiến hành nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến nuôi cá lồng ở huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. - Cơ sở lý luận nào liên quan đến phát triển nuôi cá lồng? - Thực trạng phát triển nuôi cá lồng ở TXML, tỉnh Điện Biên như thế nào? - Những yếu tố nào ảnh hưởng tới phát triển nuôi cá lồng ở TXML, tỉnh Điện Biên. - Những giải pháp nào để phát triển nuôi cá lồng trên địa bàn TXML, tỉnh Điện Biên.
Ý nghĩa khoa học Đây là phương pháp chung trong quá trình thực hiện đề tài nhằm nghiên cứu bản chất của các hiện tượng tự nhiên kinh tế xã hội. Nó yêu cầu người nghiên cứu các hiện tượng không nghiên cứu vấn đề trong trạng thái cô lập riêng lẽ mà được đạt trong mối liên hệ bản chất chặt chẽ các hiện tượng với nhau, không phải trong trạng thái tĩnh mà trong sự vận động và phát triển không ngừng trong sự phát triển từ thấp đến cao, trong sự chuyển biến từ số lượng sang chất lượng mới, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai. - NC đề tài giúp sinh viên củng cố lại những kiến thức cơ ban và những kiến thức đào tạo chuyên môn trong quá trình học tập trong nhà trường, đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có cơ hội tiếp cận với những kiến thức ngoài thực tế. - NC đề tài là cơ sở cho SV vận dụng sáng tạo những kiến thức cơ bản đã học vào thực tiễn và là tiền đề quan trọng để SV thấy được những kiến thức cần bổ sung để phù hợp với công việc thực tế sau này.
- NC đề tài nhằm là cơ hội để mỗi SV vận dụng những kiến thức đã học vào trong nghiên cứu khoa học và là cơ sở để hình thành các ý tưởng sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Từ kết quả NC của đề tài sẽ đưa ra được tình hình nuôi cá lồng tại địa phương. Từ đó đưa ra được những nhận xét về hiệu quả, tiềm năng, thế mạnh và những khó khăn trở ngại trong quá trình nuôi cá và đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả nuôi cá lồng. Kết quả NC của đề tài có thể là tài liệu tham khảo cho SV của các lớp khóa sau.
c 5 PHẦN 2 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2. Một số vấn đề lí luận cơ bản về phát triển nuôi cá lồng 2. Khái niệm cơ bản 2. Khái niệm tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.
Tiết kiệm và đầu tư là trọng tâm, nhưng đầu tư phải hiệu quả thì mới đẩy mạnh tăng trưởng. Ngoài ra đó là kết quả cảu các hoạt động sản xuất và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Do vậy, để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dung mức tăng them của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kỳ sau so với thời kỳ trước. Đó là mức tăng % hay tuyệt đối hàng năm, hay bình quân trong một giai đoạn.
Sự tăng trưởng được so sánh theo các thời điểm liên tục trong một giai đoạn nhất định. Khái niệm phát triển kinh tế Phát triển kinh tế là quá trình lớn lên, tăng tiến mọi mặt của nền kinh tế. Nó bao gồm sự tăng trưởng kinh tế và đồng thời có sự hoàn chỉnh về mặt cơ cấu, thể chếkinh tế, chất lượng cuộc sống. Phát triển kinh tế được hiểu là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định trong đó bao gồm cả sự tăng them về quy mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội.
Đó là sự tiến bộ thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn. Phát triển kinh tế là một khái niệm chung nhất về một sự chuyển biến của nền kinh tế, từ một trạng thái thấp lên một trạng thái cao hơn. Do vậy không có tiêu chuẩn chung về sự phát triển. Để nói lên trình độ phát triển cao, thấp khác nhau giữa các nền kinh tế trong mỗi thời kì, các nhà kinh tế học phân các quá trình đó ra các nấc thang: kém phát triển, đang phát triển và phát triển,… gắn với các nấc thang đó là những giá trị nhất định, mà hiện tại vẫn chưa có cơ sở thống nhất hoàn toàn.
Trong chiến lược phát triển kinh tế có thể nhấn mạnh vào tăng trưởng tức là thu nhập, nhấn mạnh vào công bằng và bình đẳng trong xã hội hoặc nhấn mạnh vào phát triển toàn diện, tức vừa nhấn mạnh vào số lượng vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục c 6 tiêu công bằng và sự tiến bộ của xã hội. Trong thực tế phát triển kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển kinh tế xã hội, đời sống vật chất và đời sống tinh thần của nhân dân. Tăng trưởng kinh tế là tiền đề vật chất hỗ trợ cho việc thực hiện công bằng xã hội, ngược lại công bằng xã hội tạo ra động lực vững chắc để thúc đẩy kinh tế.
Hiệu quả kinh tế phải gắn với hiệu quả xã hội thành hiệu quả kinh tế xã hội. Nó là tiêu chuẩn quan trọng của sự phát triển nền kinh tế. Như vậy, phát triển kinh tế được xem như là quá trình biến đổi cả về lượng và về chất, nó là sự kết hợp một cách chặt chẽ quá trình hoàn thiện của hai vấn đề về kinh tế và xã hội ở mỗi quốc gia. Theo cách hiểu như vậy, phát triển là một quá trình lâu dài và do các nhân tố nội tại của nền kinh tế quyết định.