Đặt vấn đề NLKH là phương thức canh tác trên đất dốc, đã được rất nhiều nước áp dụng bởi qua các mô hình NLKH có thể giải quyết được các mâu thuẫn về việc phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực vùng núi mà vẫn bảo vệ được môi trường sinh thái, phát triển các nguồi tài nguyên thiên nhiên sẵn có. Phương thức sản xuất NLKH phù hợp với vùng núi bởi sự phối kết hợp giữa nhiều thành phần của Nông - Lâm - Ngư trong đó cây trồng được bố trí hợp lý theo không gian và thời gian nhằm tận dụng được tiềm năng về đất đai một cách triệt để. Để đem lại hiệu quả từ việc phát triển NLKH cần có sự tham gia của người dân và các nhà khoa học, vì người dân là đối tượng trực tiếp có nhu cầu phát triển kinh thế, phát triển các mô hình, trên đất đai của mình, họ là những người nắm trong tay lượng kiến thức lớn về kinh nghiệm sản xuất tại địa phương. Chính vì điều đó việc kết hợp giữa các nhà khoa học và người dân là rất đỗi cần thiết để đem lại hiệu quả từ các mô hình NLKH.
Bành Trạch là một xã miền núi thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Xã có dạng địa hình phức tạp đan xen, chủ yếu là đồi núi và thung lũng nhỏ. Diện tích của xã là 59,76 km², đất lâm nghiệp là 25,31km², nông nghiệp 31,25km², dân số khoảng 3.089 người, mật độ dân số đạt 51,7 người/km², chủ yếu là người dân tộc sinh sống. Với dạng địa hình là đồi núi và có độ dốc lớn nên việc canh tác còn chịu nhiều hạn chế nhất định với việc phát triển cũng như nâng cao sản xuất nông lâm nghiệp chưa thực sự được quan tâm.
Nền kinh tế phụ thuộc vào nền nông nghiệp và phần nhỏ vào lâm nghiệp là chính nên chủ yếu người dân có nền kinh tế là tự cung tự cấp, cơ cấu cây trồng vật nuôi còn chưa đa dạng nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn. n 2 Sau thời gian tìm hiểu tôi nhận thấy xã Bành Trạch hiện đang là một xã còn nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế nông lầm ghiệp và có nhiều tiềm năng phát triển các mô hình NLKH như người dân ham học hỏi và chịu khó, quỹ đất chưa sử dụng và sử dụng không mang lại hiệu quả kinh tế còn nhiều, có một sông lớn chảy qua địa bàn cung cấp nước tưới quanh năm. Việc đánh giá và xây dựng các mô hình NLKH giúp người dân có được một mô hình phát triển kinh tế hộ mà đảm bảo được tính bền vững và bảo vệ được hệ sinh thái địa phương. Cùng với mong muốn đây sẽ là một mô hình đem lai nhiều hiệu quả về kinh tế và môi trường để được các địa phương lân cận học hỏi và tham khảo.
Để giúp người dân địa phương có được những giải pháp phát triển sản xuất Nông lâm nghiệp nói chung và NLKH nói riêng theo hướng sử dụng tài nguyên lâu bền và hiệu quả tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả các hệ thốngNông lâm kết hợp tại Xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” 1.Mục đích nghiên cứu Đánh giá hiệu quả của một số hệ thống NLKH điển hình tại Xa Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn từ đó tìm ra được những tiềm năng hạn chế của mô hình NLKH và đưa ra các giải pháp nhằm nâng hiệu quả của mô hình, nhân rộng mô hình trong địa bàn và các vùng lân cận, nâng cao đời sống người dân tại địa phương góp phần vào việc bảo vệ môi trường sinh thái của xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 1. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được thực trạng phát triển và hiệu quả của một số hệ thống NLKH tại xã Bành Trạch huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn - Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, môi trường một cách lâu dài và bền vững từ các hệ thống NLKH, từ đó xây dựng những mô hình bền vững và đem lại hiệu quả cao. Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu 1.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Bổ sung thêm các phương pháp tiếp cận và nghiên cứu trong đánh giá các mô hình NLKH về hiệu quả kinh tế, hiệu quả môi trường, xã hội - Tạo cho sinh viên môi trường học tập ngoài thực tiễn, giúp sinh viên áp dụng các kiến thức đã được học tại nhà trường vào thực tiễn, giúp học sinh hệ thống lại kiến thức đã học. - Giúp sinh viên làm quen với việc học tập và nghiên cứu, biết vận dụng các phương pháp sử lý số liệu, thu thập thông tin, kỹ năng giao tiếp với người dân.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Các giải pháp mà đề tài đã đề xuất được ứng dụng vào sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả các mô hình NLKH theo hướng bền vững và hiệu quả từ đó nâng cao đời sống cho người dân tại địa phương.
- Giúp địa phương về việc đưa ra các chính sách hỗ trợ người dân phát triển NLKH thông qua các kết quả thu được từ đề tài. - Đưa ra các hướng phát triển, cải tạo các mô hình NLKH để đem lại hiệu quả và bền vững từ mô hình NLKH. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2.
Quan điểm về hệ thống Có rất nhiều quan điểm về Hệ thống trên thế giới nhưng nổi bật lên hết là quan điểm về Hệ thống của Papendick cụ thể như sau: Theo tác giả Papendick (1976) “Hệ thống là một nhóm các thành phần quan hệ qua lại với nhau hoạt động cùng chung mục đích, hoạt động này mang tính thống nhất và có thể bị tác động bởi điều kiện môi trường, hệ thống không bị ảnh hưởng bởi chính đầu ra của nó và mỗi hệ thống đều có ranh giới rõ rệt, ranh giới đó có được là do sự phản hồi nhận ra các thành phần trong hệ thống”[18].2 Quan điểm về hệ thống NLKH Hệ thống NLKH đã được hình thành và phát triển từ rất lâu cùng với đó là nhiều quan điểm về về hệ thống NLKH. Nhưng trong đó quan điểm của 2 tác giả Landgren và Raintree(1982) được coi là hoàn chỉnh nhất được công nhận rộng rãi trong các văn bản của ICRAF ( trung tâm Quốc tế về nghiên cứu NLKH).[15] Theo quan điểm của Nair (1987) cho rằng: “NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với cây hoa màu và vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện không gian và thời gian để tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một diện tích đất đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn”.[17] Theo quan điểm này NLKH là tên gọi chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó có các cây lâu năm (cây gỗ, cây bụi, tre hay cây ăn quả, cây công nghiệp) được trồng suy tính trên một đơn vị diện tích quy hoạch đất với hoa màu hoặc với vật nuôi dưới dạng sắp xếp không gian hay thời gian. Trong n 5 các hệ thông NLKH có mỗi tác động tương hỗ qua lại cả về mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng. Như vậy một hệ thống NLKH đầy đủ cần đầy đủ các tiêu chí sau: - Chu kỳ sản xuất thường lớn hơn 1 năm.
- Đa dạng về sinh thái lớn hơn 1 năm. - Đa dạng về sinh thái (cấu trúc, nhiệm vụ) và kinh tế so với canh tác độc canh. - Cần có một mối quan hệ tương hỗ có ý nghĩa giữa các thánh phần cây lâu năm và thành phần khác. - Có ít nhất hai hay nhiều hơn hai sản phẩm từ hệ thống.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển NLKH trong và ngoài nƣớc 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Để hạn chế được việc xói mòn và bảo vệ đất đai và đa dạng hóa sản phâm và cây trồng các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu các hệ thống canh tác trên vùng đồi núi dốc để loại bỏ các yếu tố gây hại cho đất nhưng vẫn đảm bảo được nguồn thu cho người dân và đảm bảo tính bền vững và nổi bật hơn cả là các hệ thống NLKH đều đáp ứng được yêu cầu của các nhà khoa học đề ra. Việc phát triển dân số trên toàn cầu cùng nhu cầu về lương thực, thực phẩm và đặc biệt là nạn phá rừng đã trở thành mối lo ngại của toàn xã hội. Việc phát triển nông lâm nghiệp thiếu khoa học thể hiện rõ nhất là việc độc canh trên đất dốc và thiếu quy hoạch trong việc phát triển nông lâm nghiệp là những lý do dẫn tới việc sự đa dạng về hệ sinh thía bị giảm sút nghiêm trọng vào những thập niên 70 và các năm đầu thập niên 80.
Với việc tàn phá nặng nề về hệ sinh thái và hệ lụy từ việc phát triển độc canh trên đất dốc các nhà khoa học đã tìm các phương thức canh tác khác nhau với mục đích hạn chế việc giảm suy thái đất, bảo vệ môi trường, n 6 tăng hiệu quả kinh tế và đảm bảo tính bến vững. Và nổi bật hơn cả là những phương thức canh tác tiền đề để hình thành các hệ thống NLKH được hình thành về sau. Để thấy được nguồn gốc của hệ thốngNLKH thì có thể nhận thấy quan điểm của King (1987) đã khẳng định rằng ở Châu Âu thời trung cổ người ta phát quang rừng, đốt cành nhánh và canh tác lương thực. Kiểu canh tác này không phổ biến và tồn tại lâu dài nhưng ơ Đức và Phần Lan kiểu canh tác này tồn tại đến năm 1920.[14] Theo PKL,Nair.(1987) ông đã cho tằng: Du canh được đánh giá là phương thức cổ xưa nhất, lúc này người ta đã tích lũy được ít nhiều kiến thức sơ đẳng về tự nhiên.
Loài người đã vượt qua thời kỳ này bằng các cuộc cách mạng về kỹ thuật, chăn nuôi và trồng trọt song không phải tất cả các nước trên thế giới đều thực hiện được. Sau đó sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới như là một sự báo trước cho phương thức NLKH sau này [17] Qua đây có thể thấy rằng từ rất sớm các nhà kha học đã chú trọng tới việc tìm kiếm và phát triển các hệ thống bao gồm cả việc áp dụng các phương thức mới để tìm ra được hệ thống với quy mô và phương thức kết hợp tạo được sự đa dạng vê sản phẩm và tạo được nguồn thu lớn và ổn định.