Tổng quan nghiên cứu

Chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi trên nền đất lúa kém hiệu quả là một trong những định hướng then chốt của chiến lược tái cơ cấu nông nghiệp tại Việt Nam. Trong giai đoạn 2011 - 2015, cả nước đã chuyển đổi nội bộ khoảng 40.000 ha đất trồng lúa sang mô hình cây lâu năm và nuôi trồng thủy sản nhằm gia tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Tại tỉnh Nam Định, thực hiện các chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn, toàn tỉnh đã triển khai 40 dự án chuyển đổi đất lúa trũng, đất sản xuất muối và trồng cói kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản với tổng diện tích 1.077 ha và nguồn vốn đầu tư đạt trên 95,26 tỷ đồng.

Huyện Ý Yên là địa bàn thuần nông nằm ở phía Tây tỉnh Nam Định, sở hữu vị trí địa lý thuận lợi khi tiếp giáp các trục giao thông huyết mạch như Quốc lộ 10 và tuyến đường sắt Bắc - Nam. Tuy nhiên, phần lớn diện tích đất nông nghiệp của huyện tập trung ở các vùng trũng ngập úng định kỳ hoặc chân ruộng cao khó chủ động tưới tiêu, khiến năng suất lúa truyền thống chỉ dao động ở mức 45 - 50 tạ/ha và lợi nhuận thuần của nông hộ ở mức rất thấp. Nhằm giải quyết bài toán gia tăng giá trị kinh tế và sinh kế cho người dân, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý đất đai của tác giả Tống Thu Hương tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành đánh giá toàn diện hiệu quả chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương trong giai đoạn 2010 - 2015.

Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích thực trạng, so sánh định lượng hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường của 2 mô hình chuyển đổi phổ biến gồm nuôi cá ghép trong ao và nuôi cá rô phi đơn tính tại 3 xã trọng điểm Yên Khánh, Yên Nghĩa, Yên Thọ. Nghiên cứu chứng minh việc chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang thủy sản đã nâng thu nhập của nông hộ từ 29,97 triệu đồng/ha/năm lên tới 229,43 triệu đồng/ha/năm, tạo ra luận cứ thực tiễn quan trọng cho công tác quy hoạch sử dụng đất cấp huyện.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý luận kinh điển của Karl Marx về địa tô và đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong nông nghiệp. Hiệu quả sử dụng đất được xem xét dựa trên quy luật tiết kiệm thời gian lao động và phân phối tối ưu các nguồn lực vật chất, nhằm tạo ra khối lượng của cải tối đa trên một diện tích đất nhất định với chi phí thấp nhất.

Đồng thời, luận văn tích hợp khung lý thuyết phát triển bền vững theo Báo cáo Our Common Future của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới năm 1987 và hướng dẫn đánh giá đất đai của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO, 1990, 1995). Theo đó, một mô hình sử dụng đất chỉ được coi là thành công khi dung hòa đồng thời 3 trụ cột: tối ưu hóa giá trị kinh tế, bảo đảm công bằng và việc làm xã hội, và duy trì an toàn sinh thái với độ che phủ cùng mức cân bằng dinh dưỡng đất bền vững.

Trong bối cảnh đất sản xuất nông nghiệp bình quân đầu người tại Việt Nam chỉ đạt 0,25 ha (thấp hơn mức 0,36 ha của khu vực Đông Nam Á và 0,52 ha của thế giới), việc đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất vận dụng hệ thống các chỉ tiêu định lượng cốt lõi gồm: Giá trị sản xuất (GTSX), Chi phí trung gian (CPTG), Giá trị gia tăng (GTGT = GTSX - CPTG), Hiệu quả đồng vốn (GTSX/CPTG) và Năng suất lao động quy đổi trên mỗi ngày công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn điểm nghiên cứu đại diện kết hợp điều tra xã hội học nông thôn thông qua phiếu phỏng vấn trực tiếp 120 nông hộ tại 3 xã có diện tích chuyển đổi lớn nhất huyện Ý Yên gồm xã Yên Khánh, xã Yên Nghĩa và xã Yên Thọ. Cơ cấu mẫu được phân bổ đồng đều với 40 phiếu khảo sát tại mỗi xã, chia thành 20 phiếu cho mô hình nuôi cá ghép và 20 phiếu cho mô hình nuôi cá rô phi đơn tính.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê đất đai, quy hoạch sử dụng đất và số liệu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2015 của Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Ý Yên. Dữ liệu sơ cấp được thu thập chi tiết về các khoản mục chi phí đầu vào, sản lượng thu hoạch, giá bán, công lao động và định mức sử dụng phân bón, hóa chất bảo vệ thực vật.

Toàn bộ dữ liệu được tổng hợp, phân tổ và xử lý thống kê trên phần mềm Microsoft Office Excel 2010. Phương pháp phân tích chi phí - lợi ích kết hợp so sánh đối chứng trước và sau chuyển đổi được lựa chọn vì tính chính xác, khả năng lượng hóa rõ nét sự thay đổi về dòng tiền và tính phù hợp tuyệt đối với quy chuẩn đánh giá đất đai của ngành Quản lý đất đai.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng rõ nét về sự thay đổi toàn diện trên cả 3 phương diện kinh tế, xã hội và môi trường:

Thứ nhất, về hiệu quả kinh tế: Mô hình chuyển đổi sang nuôi cá ghép trong ao mang lại thu nhập bình quân 229,43 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 7,6 lần so với mức thu nhập trước chuyển đổi khi trồng lúa chỉ đạt 29,97 triệu đồng/ha/năm. Đối với mô hình nuôi cá rô phi đơn tính, giá trị sản xuất đạt 217,77 triệu đồng/ha/năm, tăng thêm 187,57 triệu đồng/ha/năm so với canh tác lúa, đưa mức thu nhập ròng cao gấp 7,2 lần so với phương thức sản xuất cũ.

Thứ hai, về hiệu quả xã hội và sử dụng lao động: Sau khi chuyển đổi sang mô hình nuôi cá ghép, số công lao động gia đình tăng thêm 127 công/ha/năm. Giá trị sản xuất tạo ra trên một ngày công lao động đạt 685,22 nghìn đồng, cao gấp 3,8 lần so với trước chuyển đổi; giá trị thu nhập trên một ngày công đạt 470,93 nghìn đồng, gấp 5,46 lần. Ở mô hình cá rô phi đơn tính, số công lao động tăng thêm 90 công/ha/năm, giá trị sản xuất một ngày công đạt 694,26 nghìn đồng (gấp 3,9 lần) và thu nhập đạt 471,17 nghìn đồng/công (gấp 5,5 lần).

Thứ ba, về biến động môi trường sinh thái: Trước chuyển đổi, tình trạng lạm dụng hóa chất diễn ra nghiêm trọng. Ở vụ lúa xuân, lượng phân lân bón thực tế lên tới 600 - 700 kg/ha, cao gấp 7,6 lần so với khuyến cáo 80 - 90 kg/ha; lượng phân kali bón vượt 3 lần quy chuẩn, trong khi phân chuồng hữu cơ chỉ đạt 2,3 - 3 tấn/ha so với định mức khuyến nghị 8 - 10 tấn/ha. Sau khi chuyển sang nuôi thủy sản, lượng phân bón và thuốc trừ sâu hóa học ngấm vào đất giảm hơn 85%, nhưng nguy cơ ô nhiễm nguồn nước mặt gia tăng do các hộ chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải ao nuôi.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng vượt bậc về mặt tài chính bắt nguồn từ việc khai thác triệt để tiềm năng các vùng trũng úng, vốn là điểm nghẽn của nghề trồng lúa nhưng lại là lợi thế tự nhiên lý tưởng cho phát triển thủy sản nước ngọt. Việc chuyển dịch từ nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa thâm canh giúp tỷ suất sinh lời trên một đồng chi phí trung gian (GTGT/CPTG) của mô hình thủy sản tăng lên trên 1,4 lần so với mức 0,65 lần của lúa nước.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu chuyển đổi đất trũng tại các huyện lân cận thuộc tỉnh Nam Định như Vụ Bản và Mỹ Lộc, nơi các mô hình thủy sản tập trung đạt mức doanh thu từ 200 - 250 triệu đồng/ha. Tuy nhiên, việc gia tăng số ngày công lao động từ 90 đến 127 công/ha cũng đặt ra yêu cầu chuyên môn hóa cao hơn đối với nông dân.

Để các dữ liệu này được thể hiện rõ ràng và hỗ trợ tốt cho việc ra quyết định, toàn bộ các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (GTSX, CPTG, GTGT, tỷ suất lợi nhuận) nên được trình bày trực quan qua dạng biểu đồ cột nhóm so sánh trước và sau chuyển đổi. Cùng với đó, một bảng cân đối chi tiết các dòng chi phí đầu vào như con giống, thức ăn công nghiệp, thuốc thú y thủy sản và chi phí năng lượng sẽ giúp người làm công tác quản lý và người nông dân dễ dàng nhận diện điểm hòa vốn và kiểm soát rủi ro vận hành.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực tế và các rào cản về hạ tầng cũng như kỹ thuật, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, mở rộng nguồn vốn tín dụng ưu đãi và đa dạng hóa hình thức cho vay: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp với Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh huyện Ý Yên xây dựng gói tín dụng trung hạn từ 100 - 150 triệu đồng/ha với mức lãi suất ưu đãi giảm 2 - 3%/năm cho các hộ chuyển đổi. Thời hạn vay kéo dài 36 - 60 tháng trong giai đoạn 2024 - 2026, bảo đảm 100% nông hộ có nhu cầu tiếp cận được nguồn vốn để đào đắp ao nổi và đầu tư máy quạt khí.

Thứ hai, nâng cao nhận thức kỹ thuật và kiểm soát dịch bệnh: Trạm Khuyến nông huyện Ý Yên kết hợp với UBND các xã Yên Khánh, Yên Nghĩa và Yên Thọ tổ chức định kỳ 12 - 15 lớp đào tạo tập trung mỗi năm về quy trình nuôi cá VietGAP, quản lý môi trường nước bằng chế phẩm vi sinh sinh học. Mục tiêu đến năm 2025 có trên 85% hộ nuôi nắm vững kỹ thuật phòng trị bệnh xuất huyết, nấm mang và quản lý thức ăn công nghiệp.

Thứ ba, đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng thủy lợi và xử lý môi trường: UBND huyện Ý Yên và Phòng Nông nghiệp & PTNT triển khai dự án nạo vét, kiên cố hóa hệ thống kênh cấp nước và thoát nước riêng biệt trên 100% diện tích vùng chuyển đổi tập trung từ 5 ha trở lên. Bắt buộc 100% cơ sở nuôi phải xây dựng ao lắng hoặc hố gom bùn thải với thể tích tối thiểu bằng 15% diện tích ao nuôi chính trước năm 2026 nhằm xử lý triệt để nước thải hữu cơ.

Thứ tư, phát triển chuỗi liên kết giá trị và hợp tác xã tiêu thụ: Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện hỗ trợ thành lập ít nhất 3 hợp tác xã chuyên ngành thủy sản tại các xã trọng điểm trong giai đoạn 2024 - 2025. Xây dựng thương hiệu cá sạch Ý Yên và ký kết hợp đồng cung ứng trực tiếp với chuỗi siêu thị, chợ đầu mối tại thành phố Nam Định và Hà Nội nhằm bảo đảm biên lợi nhuận ròng ổn định trên 30% cho người sản xuất.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Cơ quan quản lý Nhà nước về Tài nguyên - Môi trường và Nông nghiệp: Cán bộ địa chính, quy hoạch tại cấp huyện và tỉnh sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học để xây dựng kế hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên đất trồng lúa giai đoạn 2026 - 2030, giúp tối ưu hóa hơn 1.000 ha đất trũng kém hiệu quả trên địa bàn.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Luận văn cung cấp khung phương pháp luận chuẩn xác về đánh giá hiệu quả sử dụng đất 3 chiều (kinh tế, xã hội, môi trường), bộ công cụ thiết kế bảng hỏi khảo sát 120 mẫu nông hộ và quy trình phân tích số liệu thực chứng chuyên ngành Quản lý đất đai.
  3. Ban quản trị Hợp tác xã và các nông hộ: Người trực tiếp sản xuất có thể tham khảo bảng định mức chi phí đầu tư, cơ cấu giống thả và lịch mùa vụ của mô hình nuôi cá ghép (thu nhập 229,43 triệu đồng/ha) và cá rô phi đơn tính (thu nhập 217,77 triệu đồng/ha) để lựa chọn mô hình nuôi thích hợp với quy mô vốn từ 50 - 100 triệu đồng.
  4. Tổ chức tín dụng nông thôn và các quỹ phát triển sinh kế: Số liệu định lượng về thời gian thu hồi vốn từ 12 - 18 tháng và tỷ suất sinh lời trên ngày công là cơ sở quan trọng để thẩm định phương án kinh doanh, thiết kế sản phẩm vay tín chấp phù hợp cho kinh tế trang trại thủy sản.

Câu hỏi thường gặp

Hiệu quả kinh tế của mô hình nuôi cá ghép vượt trội như thế nào so với trồng lúa truyền thống? Mô hình nuôi ghép các loài cá trong ao đạt thu nhập bình quân 229,43 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 7,6 lần so với mức 29,97 triệu đồng/ha/năm của canh tác lúa. Giá trị sản xuất tạo ra trên một ngày công lao động cũng tăng gấp 3,8 lần, đạt 685,22 nghìn đồng/công, chứng minh tính ưu việt vượt trội về khả năng sinh lời trên các diện tích đất trũng ngập nước.

Cỡ mẫu và phương pháp điều tra của luận văn được thực hiện như thế nào để đảm bảo tính đại diện? Nghiên cứu tiến hành khảo sát trực tiếp 120 phiếu điều tra nông hộ tại 3 xã có diện tích chuyển đổi lớn nhất huyện Ý Yên là Yên Khánh, Yên Nghĩa và Yên Thọ. Tại mỗi xã, tác giả thu thập chính xác 40 phiếu, phân bổ đồng đều 20 phiếu cho mô hình cá ghép và 20 phiếu cho mô hình cá rô phi đơn tính, bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy thống kê cao.

Chuyển đổi sang nuôi cá rô phi đơn tính tác động ra sao đến vấn đề giải quyết việc làm địa phương? Mô hình cá rô phi đơn tính tạo thêm 90 ngày công lao động gia đình trên mỗi hecta đất canh tác mỗi năm. Thu nhập bình quân đạt 471,17 nghìn đồng cho mỗi ngày công, cao gấp 5,5 lần so với trồng lúa, giúp giải quyết triệt để tình trạng lao động nông nhàn và gia tăng nguồn thu nhập ổn định cho kinh tế hộ nông thôn.

Tình trạng sử dụng phân bón hóa học trước khi chuyển đổi có những điểm bất cập nào? Trước chuyển đổi, nông hộ lạm dụng phân hóa học nghiêm trọng với lượng phân lân bón thực tế từ 600 - 700 kg/ha ở vụ xuân, vượt 7,6 lần mức khuyến cáo 80 - 90 kg/ha. Lượng phân kali bón vượt 3 lần quy chuẩn, trong khi phân chuồng hữu cơ chỉ đạt 2,3 - 3 tấn/ha, thấp hơn rất nhiều so với định mức kỹ thuật 8 - 10 tấn/ha.

Thách thức lớn nhất về mặt môi trường sinh thái sau khi chuyển sang nuôi thủy sản là gì? Mặc dù giảm thiểu hoàn toàn dư lượng thuốc trừ sâu và phân hóa học trong đất, môi trường nước mặt tại vùng dự án lại chịu áp lực ô nhiễm cục bộ. Nguyên nhân chính do phần lớn hộ nuôi chưa xây dựng hệ thống ao lắng lọc sinh học và xả trực tiếp nguồn nước thải giàu chất hữu cơ chưa qua xử lý ra hệ thống kênh tưới tiêu chung.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang nuôi thủy sản tại Ý Yên nâng thu nhập nông hộ lên 217,77 - 229,43 triệu đồng/ha/năm, cao gấp hơn 7 lần so với cấy lúa truyền thống.
  • Giải quyết hiệu quả bài toán lao động nông thôn khi tạo thêm 90 - 127 công lao động/ha với giá trị ngày công đạt trên 470 nghìn đồng, tăng gấp khoảng 5,5 lần.
  • Cắt giảm triệt để tình trạng lạm dụng phân lân vô cơ (từng bị bón vượt 7,6 lần khuyến cáo) và loại bỏ hoàn toàn tồn dư thuốc trừ sâu độc hại trên bề mặt đất.
  • Xác định rõ nút thắt cốt lõi về ô nhiễm nguồn nước mặt ao nuôi và tình trạng thiếu hạ tầng kênh cấp - thoát nước độc lập tại các vùng chuyển đổi.
  • Thiết lập hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược khả thi về vốn vay ưu đãi, tập huấn VietGAP, hoàn thiện kênh mương và xây dựng chuỗi tiêu thụ sản phẩm bền vững.

Công trình nghiên cứu của tác giả Tống Thu Hương (2017) tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam là tài liệu tham khảo thực chứng xuất sắc cho các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia quản lý đất đai và người sản xuất nông nghiệp. Để tiếp tục hoàn thiện mô hình, các cơ quan ban ngành cần xúc tiến triển khai quy hoạch chi tiết và hỗ trợ kỹ thuật đồng bộ trong giai đoạn 2024 - 2026. Quý độc giả, học viên và nhà nghiên cứu có thể tham khảo toàn văn luận văn tại thư viện Học viện Nông nghiệp Việt Nam để khai thác sâu hơn hệ thống số liệu chuyên ngành.