Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa và phát triển kinh tế - xã hội diễn ra nhanh chóng tại các đô thị Việt Nam đã thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ về nhu cầu tiêu dùng tài nguyên, kéo theo khối lượng chất thải rắn sinh hoạt ngày càng lớn. Tại thành phố Hà Nội, áp lực rác thải đô thị trở thành một trong những vấn đề môi trường cấp bách, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường đất, nước, không khí và mỹ quan không gian sống.

Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số 74/CP ngày 22/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ, gồm 11 phường trực thuộc: Thượng Đình, Hạ Đình, Khương Đình, Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Kim Giang, Phương Liệt, Nhân Chính, Khương Mai và Khương Trung. Với đặc điểm là cửa ngõ phía Tây Nam nội thành Hà Nội, có mật độ dân cư đông đúc, nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ xen kẽ và hệ thống hạ tầng đang trong quá trình hoàn thiện, quận Thanh Xuân phải đối mặt với lượng rác thải sinh hoạt phát sinh hàng ngày rất lớn. Hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác trên địa bàn còn bộc lộ nhiều điểm bất cập, tình trạng quá tải phương tiện và điểm tập kết tạm thời gây ô nhiễm cục bộ.

Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả Ngô Mỹ Hạnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên với đề tài: "Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội".

Khóa luận xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá thực trạng công tác quản lý, xử lý, nguồn phát thải, số lượng, thành phần chất thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  2. Đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại địa phương.

Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu của đề tài bao gồm:

  1. Điều tra thực trạng công tác quản lý, xử lý, nguồn phát thải, số lượng, thành phần chất thải sinh hoạt trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  2. Đánh giá công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
  3. Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; trong đó thực hiện điều tra, khảo sát chuyên sâu tại 3 phường đại diện gồm Nhân Chính, Khương Đình và Hạ Đình.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập số liệu và khảo sát thực địa từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm, cơ sở lý luận về quản lý chất thải rắn đô thị dựa trên Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam cùng các tài liệu chuyên ngành của các tác giả Nguyễn Đình Hương (2003), Huỳnh Tuyết Hằng (2005) và Trần Hiếu Nhuệ (2001). Rác thải sinh hoạt được xác định là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, cơ quan, khu thương mại và nơi công cộng, gồm hai hợp phần chính là rác hữu cơ dễ phân hủy và rác vô cơ khó phân hủy. Khóa luận cũng căn cứ vào các văn bản pháp lý và chỉ đạo của địa phương như Chỉ thị số 04 của Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội về tổng vệ sinh môi trường sáng thứ Bảy hàng tuần, Kế hoạch số 115/KH-UBND và Quyết định số 2527/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân về kiểm tra công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và thu thập thông tin:

  1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Kế thừa và phân tích các tài liệu, báo cáo chuyên môn, số liệu thống kê khí tượng - thủy văn (trạm Láng từ năm 2006 đến 2012 từ Tổng cục Thống kê), các báo cáo hiện trạng môi trường của Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Hà Nội, Phòng Tài nguyên và Môi trường quận Thanh Xuân, Trung tâm Phát triển quỹ đất và Duy tu các công trình đô thị quận Thanh Xuân, cùng số liệu từ các đơn vị cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường.
  2. Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Thiết kế phiếu điều tra xã hội học có cấu trúc để khảo sát ngẫu nhiên 60 hộ gia đình tại 3 phường (Nhân Chính, Khương Đình, Hạ Đình); phỏng vấn trực tiếp cán bộ quản lý môi trường cấp quận, phường và công nhân thu gom rác thuộc Hợp tác xã Thành Công.
  3. Phương pháp khảo sát thực địa: Tiến hành quan sát, ghi nhận thực tế các tuyến đường, ngõ xóm, 61 điểm tập kết rác tạm thời; thực hiện lấy mẫu rác thải trực tiếp tại 3 phường khảo sát (mỗi điểm lấy 1 kg rác sinh hoạt) để tiến hành phân tách thủ công và cân xác định thành phần cơ lý.
  4. Phương pháp phân tích, tổng hợp và xử lý số liệu: Ứng dụng các phần mềm tin học văn phòng (Word, Excel) để thống kê, lập bảng biểu so sánh, tổng hợp tỷ lệ phần trăm và đối chiếu với các quy chuẩn kỹ thuật môi trường hiện hành.
  5. Phương pháp tham khảo ý kiến: Tham vấn ý kiến khoa học từ giảng viên hướng dẫn (PGS.TS. Lương Văn Hinh), các chuyên viên tại Chi cục Bảo vệ môi trường thành phố Hà Nội và cán bộ địa chính - môi trường tại các phường trên địa bàn quận.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh tốc độ đô thị hóa nhanh tại quận Thanh Xuân tạo ra lượng rác thải lớn, vượt quá năng lực đáp ứng của hạ tầng thu gom và xử lý. Xác định rõ mục đích nghiên cứu, 3 yêu cầu cụ thể, cùng ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài đối với công tác bảo vệ môi trường địa phương.

Phần 2: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về chất thải rắn sinh hoạt, nguồn gốc phát sinh, tính chất lý - hóa - sinh và cơ chế gây ô nhiễm đến môi trường đất, nước mặt, nước ngầm, không khí. Nêu rõ cảnh báo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về tỷ lệ mắc bệnh ung thư gần bãi chôn lấp rác chiếm 15,25% dân số và tỷ lệ viêm nhiễm phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm 25%. Tổng quan kinh nghiệm quản lý và phân loại rác thải tại các quốc gia phát triển (Đức phân loại 4 màu thùng từ năm 1991, Singapore đấu thầu dịch vụ thu gom, Hoa Kỳ phát sinh 10 tỷ tấn rác/năm).

Phần này phân tích hiện trạng phát sinh và xử lý chất thải rắn tại Việt Nam với tỷ lệ xử lý chủ yếu là chôn lấp (96%), trong đó cả nước có 91 bãi chôn lấp thì chỉ 17 bãi hợp vệ sinh. Tại Hà Nội, tổng khối lượng rác sinh hoạt năm 2012 đạt 6.366 tấn/ngày (khu vực đô thị 10 quận và thị xã Sơn Tây là 4.150 tấn/ngày). Toàn bộ rác thải đô thị của các quận nội thành được vận chuyển về Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn (Sóc Sơn) và bãi rác Xuân Sơn (Sơn Tây); một phần rác được xử lý đốt tại Nhà máy Seraphine Sơn Tây (công suất 300 tấn/ngày) hoặc chế biến phân compost tại Cầu Diễn (50–60 tấn/ngày) và Kiêu Kỵ - Gia Lâm (45–50 tấn/ngày).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định cụ thể đối tượng nghiên cứu là công tác quản lý và xử lý CTRSH tại quận Thanh Xuân; thời gian nghiên cứu kéo dài 3 tháng (05/05/2014 – 05/08/2014). Xác lập 5 nội dung nghiên cứu trọng tâm và chi tiết hóa quy trình triển khai 5 phương pháp: thu thập số liệu thứ cấp, phỏng vấn sơ cấp 60 hộ dân, khảo sát thực địa kết hợp lấy mẫu phân tích thành phần rác, xử lý số liệu thống kê và tham khảo ý kiến chuyên gia.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung này trình bày toàn diện các kết quả nghiên cứu thực tế tại quận Thanh Xuân theo từng khía cạnh:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Quận Thanh Xuân có diện tích 913,2 ha, dân số 214.600 người (năm 2010), mật độ 268 người/ha. Địa hình tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình 5–20 m so với mực nước biển, thấp dần từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông. Quận có sông Tô Lịch và sông Lừ chảy qua làm nhiệm vụ tiêu thoát nước, cùng các hồ điều hòa lớn như hồ Đầm Hồng, hồ Phương Liệt, hồ Hạ Đình. Sông Tô Lịch tiếp nhận khoảng 150.000 m³/ngày đêm nước thải chưa qua xử lý, gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kinh tế phát triển theo hướng dịch vụ - công nghiệp với 2.164 doanh nghiệp (năm 2008). Toàn quận có 6 chợ dân sinh, 2 bệnh viện lớn (Bệnh viện Xây dựng và Bệnh viện Phòng không - Không quân), 1 Trung tâm y tế quận và 11 trạm y tế phường.

  2. Nguồn phát sinh và khối lượng rác thải: Rác thải phát sinh từ 7 nguồn chính, trong đó hộ gia đình và khu dân cư chiếm tỷ trọng cao nhất. Kết quả thống kê khối lượng và tỷ lệ nguồn phát sinh được trình bày trong bảng dưới đây:

STT Nguồn phát sinh rác thải Khối lượng (tấn/năm) Tỷ lệ (%)
1 Nhà dân, khu dân cư 134.849 50,55
2 Giao thông, đất và phế thải xây dựng 41.417 15,53
3 Cơ quan, trường học 32.826 12,30
4 Chợ dân sinh - 7,32
5 Hoạt động thương mại, dịch vụ khác - 11,18
6 Khu vui chơi, giải trí 5.235 1,96
7 Bệnh viện, cơ sở y tế 3.097 1,16
  1. Thành phần cơ lý của rác thải sinh hoạt: Qua lấy mẫu và phân tích thực địa năm 2013–2014, rác thải sinh hoạt quận Thanh Xuân có thành phần đa dạng, được thể hiện qua bảng sau:
STT Thành phần rác thải Đặc tính chi tiết Tỷ lệ (%)
1 Chất hữu cơ dễ phân hủy Thức ăn thừa, cọng rau, vỏ quả, lá cây, bã chè, vỏ măng, hoa héo 57,5
2 Cao su, nhựa, nylon Túi nylon đã sử dụng, chai nhựa, lốp xe hỏng 14,7
3 Giấy các loại Giấy thừa, sách báo bỏ đi từ học sinh, cơ quan, trường học 10,3
4 Xỉ than Xỉ than từ đun nấu của các hộ gia đình, quán ăn 5,3
5 Kim loại Vỏ lon, đinh vít, ốc, sắt vụn 4,6
6 Các chất khác Đất, cát, phế thải xây dựng vụn 3,7
7 Gỗ Đồ dùng gia đình hỏng hóc, bàn ghế, giường tủ 2,4
8 Thủy tinh Chai lọ thủy tinh, kính vỡ, bóng đèn 1,5
  1. Khối lượng phát sinh tại hộ gia đình: Kết quả điều tra 60 hộ gia đình cho thấy: 20,0% số hộ phát sinh < 1 kg/ngày; 48,3% số hộ phát sinh từ 2 đến 3,5 kg/ngày; và 31,7% số hộ phát sinh > 4 kg/ngày.

  2. Thực trạng tổ chức quản lý và thu gom, vận chuyển:

  • Bộ máy quản lý: Ủy ban nhân dân quận giao Trung tâm Phát triển quỹ đất và Duy tu các công trình đô thị làm chủ đầu tư ký hợp đồng dịch vụ vệ sinh môi trường với Liên danh Hợp tác xã Thành Công - Công ty Cổ phần Xanh.
  • Lực lượng và tần suất: Khu vực dân cư thu gom 3 lần/ngày chia làm 3 ca (sáng 6h–8h hoặc 5h–8h30; trưa 12h30–14h hoặc 10h–13h30; tối 18h–20h hoặc 17h–21h30) với 300 công nhân quét gom và 15 công nhân vận chuyển. Cơ quan, chợ, bệnh viện thu gom 1 lần/ngày vào khung giờ 15h–17h. Khối lượng thu gom trung bình toàn quận đạt khoảng 185 đến hơn 250 tấn/ngày. Mức phí thu gom áp dụng là 6.000 đồng/người/tháng.
  • Rác y tế: Phát sinh trung bình 7 kg/ngày tại Trung tâm y tế quận và 3 tấn/quý tại các bệnh viện, được ký hợp đồng thu gom riêng với URENCO 10 và Hợp tác xã Thành Công theo quy trình chất thải nguy hại.
  • Công tác thanh tra, xử phạt: Từ năm 2011 đến thời điểm nghiên cứu, quận đã kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính về bảo vệ môi trường đối với 09 cơ sở với tổng số tiền 180 triệu đồng; hướng dẫn cấp xác nhận cam kết bảo vệ môi trường cho 14 đơn vị.
  • Phương tiện cơ giới và thiết bị thu gom được tổng hợp trong bảng:
STT Loại phương tiện Số lượng Đơn vị Tải trọng / Dung tích
1 Xe gom rác đẩy tay 1.037 Chiếc 250 kg/xe
2 Xe ép rác chuyên dụng 25 Xe 2,5 – 10 tấn/xe
3 Xe chở đất, phế thải xây dựng 15 Xe 1,25 – 15 tấn/xe
4 Xe ben tua, nhặt rác 10 Xe 1,5 – 2,5 tấn/xe
5 Xe tưới nước rửa đường 6 Xe 7 – 20 m³/xe
6 Xe gầu xúc 4 Xe 0,8 – 1 m³/gầu
7 Xe quét hút bụi 3 Xe 10 m³/xe
  • Quy trình thu gom: Rác từ hộ dân/cơ quan được thu gom sơ cấp bằng 1.037 xe đẩy tay đưa về 61 điểm tập kết tạm thời (như ngã ba Nguyễn Thị Thập – Hoàng Minh Giám, ngõ 177 Khương Đình, đối diện chùa Giáp Nhất...). Sau đó, rác được nạp lên 25 xe ép chuyên dùng để vận chuyển về bãi Nam Sơn và Xuân Sơn.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng kết toàn bộ hiện trạng phát thải, thành phần chất thải và hoạt động quản lý CTRSH tại quận Thanh Xuân; chỉ rõ những mặt đạt được cùng các điểm hạn chế trong công tác phân loại và cơ sở hạ tầng trung chuyển. Đưa ra các kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, Ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân và đơn vị thu gom nhằm hoàn thiện mạng lưới quản lý rác thải đô thị.


Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Xác định được khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn 11 phường quận Thanh Xuân dao động từ 185 đến trên 250 tấn/ngày; trong đó nguồn phát sinh từ khu dân cư chiếm tỷ lệ áp đảo 50,55% (134.849 tấn/năm), tiếp theo là đất và phế thải xây dựng chiếm 15,53% (41.417 tấn/năm), cơ quan trường học chiếm 12,30% (32.826 tấn/năm).
  • Phân tích chi tiết thành phần vật lý của rác thải tại quận: hợp phần chất hữu cơ dễ phân hủy chiếm tỷ trọng lớn nhất với 57,5%; nhóm chất có khả năng tái chế gồm cao su/nhựa/nylon chiếm 14,7% và giấy chiếm 10,3%; xỉ than chiếm 5,3%; kim loại chiếm 4,6%; thủy tinh chiếm 1,5%.
  • Đánh giá hiện trạng hạ tầng và tổ chức: Mạng lưới thu gom vận hành thông qua liên danh xã hội hóa với 1.037 xe gom rác đẩy tay tải trọng 250 kg, 25 xe ép rác chuyên dụng 2,5–10 tấn, phân bố trên 61 điểm tập kết tạm thời. Thu gom đạt tần suất 3 ca/ngày tại khu dân cư với mức phí vệ sinh 6.000 đồng/người/tháng. Toàn bộ rác thải chưa qua phân loại tại nguồn được đưa về chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn và Xuân Sơn.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Tăng cường quản lý và thể chế: Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Phòng Tài nguyên và Môi trường quận, Trung tâm Phát triển quỹ đất và Ủy ban nhân dân 11 phường; duy trì nghiêm chế độ tổng vệ sinh sáng thứ Bảy hàng tuần theo Chỉ thị 04; đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực vệ sinh môi trường.
  • Quy hoạch và nâng cấp hạ tầng thu gom: Bổ sung phương tiện xe ép rác và xe quét hút hiện đại nhằm hạn chế tình trạng quá tải, rơi vãi rác khi vận chuyển; sắp xếp và cải tạo 61 điểm tập kết rác tạm thời hợp lý, tránh ùn tắc giao thông và giảm thiểu phát tán mùi hôi tại các trục đường lớn.
  • Thực hiện phân loại rác tại nguồn: Tuyên truyền, hướng dẫn người dân phân loại rác thành 2 nhóm (hữu cơ và vô cơ); nghiên cứu tái chế hợp phần rác hữu cơ (chiếm 57,5%) làm phân compost nhằm giảm khối lượng phải vận chuyển đi chôn lấp.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã cung cấp một bộ dữ liệu thực chứng hoàn chỉnh về khối lượng, cơ cấu nguồn phát và thành phần cơ lý của rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân trong giai đoạn 2013–2014. Đề tài làm rõ mô hình quản lý dịch vụ môi trường theo phương thức xã hội hóa (hợp tác công - tư giữa cơ quan quản lý quận và liên danh Hợp tác xã Thành Công - Công ty Cổ phần Xanh), chỉ ra các điểm nghẽn thực tế làm cơ sở cho việc điều chỉnh quy hoạch điểm tập kết và chính sách quản lý chất thải rắn đô thị cấp quận.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Quy mô khảo sát nhận thức người dân và khối lượng rác thải hộ gia đình mới dừng lại ở cỡ mẫu 60 hộ tại 3/11 phường (Nhân Chính, Khương Đình, Hạ Đình); thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8/2014); việc phân tích thành phần rác dựa trên phương pháp lấy mẫu thủ công 1 kg/điểm mà chưa phân tích sâu các chỉ tiêu hóa lý phức tạp như độ ẩm, hàm lượng tro, nhiệt trị hay tỷ lệ C/N phục vụ cho công nghệ đốt rác phát điện hoặc chế biến phân vi sinh công nghiệp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi điều tra xã hội học và lấy mẫu trên toàn bộ 11 phường của quận; thực hiện đánh giá biến động thành phần rác thải theo mùa (mùa mưa và mùa khô); nghiên cứu tính khả thi về mặt kinh tế - kỹ thuật của các mô hình thí điểm phân loại rác tại nguồn tại các khu đô thị mới trên địa bàn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Quản lý Đô thị và Kỹ thuật Môi trường khi thực hiện các đồ án, đề tài nghiên cứu về chất thải rắn đô thị.

Tài liệu có giá trị tham khảo đặc biệt ở các nội dung:

  • Bảng số liệu chi tiết về thành phần cơ lý rác thải sinh hoạt đô thị tại Hà Nội giai đoạn 2013–2014.
  • Phương pháp điều tra, phân tách và xác định tỷ trọng các nguồn phát sinh chất thải rắn cấp quận.
  • Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý và quy trình công nghệ thu gom - vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt theo mô hình đấu thầu liên danh dịch vụ môi trường đô thị.

Câu hỏi thường gặp

1. Đơn vị nào chịu trách nhiệm trực tiếp thu gom và vận chuyển rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân trong giai đoạn nghiên cứu?

Trung tâm Phát triển quỹ đất và Duy tu các công trình đô thị quận Thanh Xuân ký hợp đồng giao cho Liên danh Hợp tác xã Thành Công - Công ty Cổ phần Xanh trực tiếp bố trí nhân lực, phương tiện quét dọn, thu gom và vận chuyển rác trên địa bàn 11 phường của quận.

2. Thành phần nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân và chiếm bao nhiêu phần trăm?

Chất hữu cơ dễ phân hủy (thực phẩm dư thừa, rau củ quả, lá cây, hoa héo...) chiếm tỷ trọng cao nhất với 57,5% tổng khối lượng rác thải sinh hoạt, tiếp theo là nhóm cao su, nhựa, túi nylon chiếm 14,7%.

3. Tần suất và thời gian thu gom rác tại các khu dân cư trên địa bàn quận Thanh Xuân được bố trí ra sao?

Rác tại các phường được thu gom 3 lần/ngày chia làm 3 ca: sáng (5h–8h30 hoặc 6h–8h), trưa (10h–13h30 hoặc 12h30–14h) và tối (17h–21h30 hoặc 18h–20h) với đội ngũ gồm 300 công nhân quét thu gom và 15 công nhân lái xe vận chuyển.

4. Số lượng phương tiện thu gom rác chuyên dụng của quận Thanh Xuân là bao nhiêu?

Toàn quận được bố trí 1.037 xe gom rác đẩy tay (tải trọng 250 kg), 25 xe ép rác chuyên dùng (tải trọng 2,5–10 tấn), 15 xe chở đất và phế thải xây dựng, 10 xe ben tua nhặt rác, 6 xe tưới nước rửa đường, 4 xe gầu xúc và 3 xe quét hút bụi.

5. Toàn bộ rác thải sinh hoạt sau khi thu gom tại quận Thanh Xuân được vận chuyển về đâu để xử lý?

100% rác thải sinh hoạt sau khi thu gom từ các điểm tập kết tạm thời được các xe ép rác chuyên dụng vận chuyển về xử lý chôn lấp tại Khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn (huyện Sóc Sơn) và bãi rác Xuân Sơn (thị xã Sơn Tây).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Mỹ Hạnh đã phản ánh toàn diện bức tranh hiện trạng phát sinh, thành phần cơ lý và cơ cấu quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại quận Thanh Xuân năm 2014. Nghiên cứu khẳng định lượng rác phát sinh lớn (185–250 tấn/ngày) với 57,5% là chất hữu cơ, trong khi công tác xử lý vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào việc vận chuyển đi chôn lấp tại bãi rác tập trung của thành phố Hà Nội. Các giải pháp do tác giả đề xuất về quy hoạch điểm tập kết, bổ sung xe ép rác chuyên dụng và nâng cao ý thức phân loại tại nguồn mang tính thực tiễn cao, đóng góp cơ sở dữ liệu quan trọng cho công tác quản lý môi trường đô thị tại địa phương.