MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Chất thải sinh hoạt hiện đang là một trong những nguồn lớn gây ra ô nhiễm môi trường. Quản lý rác thải là một trong những vấn đề bức xúc tại khu vực đô thị và công nghiệp tập trung ở nước ta. Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý rác thải sinh hoạt ngày càng được nhà nước, xã hội và cộng đồng quan tâm.
Tuy nhiên, nếu quản lý và tái sử dụng hợp lý thì rác thải sinh hoạt cũng là nguồn nguyên liệu đầu vào rẻ, phong phú, mang lại hiệu quả kinh tế và góp phần rất lớn trong việc bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên. Về mặt hành chính, Hà Nội được chia làm 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thị xã trong đó gồm 10 quận, 19 huyện, 1 thị xã với 584 đơn vị hành chính cấp phường, xã, thị trấn trong đó gồm có 386 xã, 177 phường và 21 thị trấn. Hà Nội hiện là trung tâm chính trị, kinh tế, công nghiệp ở các tỉnh phía Bắc và của cả nước, các hoạt động kinh tế và đô thị hoá đang phát triển nhanh chóng mạnh mẽ. Trong đó Quận Thanh Xuân được thành lập theo Nghị định số 74/CP ngày 22/11/1996 của Thủ tướng Chính phủ.
Quận có 11 đơn vị hành chính cấp phường là: Thượng Đình, Hạ Đình, Khương Đình Thanh Xuân Trung, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Kim Giang, Phương Liệt, Nhân Chính, Khương Mai và Khương Trung. Với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong những năm tới là gắn liền với mục tiêu bảo vệ môi trường. Thành phố cũng như quận đã có nhiều quan tâm đầu tư cho hoạt động quản lý và bảo vệ môi trường, trong đó có quản lý rác thải sinh hoạt. Tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu cuộc sống vật chất và sử dụng tài nguyên ngày càng lớn kéo theo sự gia tăng lượng rác thải rắn nói chung và lượng rác thải sinh hoạt nói n 2 riêng ngày càng nhiều tạo áp lực rất lớn cho công ty thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Hiện nay việc thu gom và xử lý rác thải chưa đáp ứng được nhu cầu, đây là nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất, vệ sinh đô thị và ảnh hưởng xấu tới cảnh quan đô thị. Xuất phát từ vấn đề thực tế trên, được sự phân công của ban chủ nhiệm Khoa dưới sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lương Văn Hinh, và được thực tập tại Chi cục BVMT thành phố Hà Nội và Phòng Tài nguyên môi trường Quận Thanh Xuân, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội”. Mục đích, yêu cầu nghiên cứu đề tài. Mục đích của đề tài.
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý, xử lý, nguồn phát thải, số lượng, thành phần chất thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. - Đề xuất biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại địa phương. Yêu cầu của đề tài - Điều tra thực trạng công tác quản lý, xử lý, nguồn phát thải, số lượng, thành phần chất thải sinh hoạt trên địa bàn quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. - Đánh giá công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, công tác tuyên truyền vệ sinh môi trường và nhận thức của người dân về rác thải sinh hoạt tại quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: + Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ công tác nghiên cứu sau này. + Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu vào công việc cụ thể. - Ý nghĩa trong thực tiễn: + Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, vận chuyển và quản lý rác thải sinh hoạt, thực trạng quản lý rác thải sinh hoạt còn những điểm hạn chế nào,… + Đề xuất các được ra giải pháp quản lý bảo vệ môi trường tại khu vực quận nói riêng và toàn thành phố nói chung.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm - Chất thải Theo Luật bảo vệ môi trường (BVMT) Việt Nam: Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sinh hoạt hoặc hoạt động khác. “Chất thải rắn sinh hoạt” là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. - Rác thải Rác thải là các loại rác thải ở dạng lỏng, không hòa tan được thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp.
Rác thải còn bao gồm cả bùn cặn, phế phẩm nông nghiệp, xây dựng, khi thác,… Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do hoạt động của con người và động vật tạo ra. Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có. Do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Rác thải có thể ở dạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong tiêu dùng.
Dựa vào thành phần rác thải được chia thành 2 loại: rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ. + Rác thải hữu cơ: như cây, rau cỏ, vỏ hoa quả, thức ăn dư thừa, xác động vật,… chúng là những chất dễ phân hủy gây ô nhiễm môi trường. Khi bị phân hủy chúng bốc mùi khó chịu, phát sinh nhiều vi trùng gây bệnh, thu hút côn trùng, tạo điều kiện cho chúng phát triển, gây ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm nguồn nước và lây sang người, gia súc, mất vẻ đẹp mỹ quan,… n 5 + Rác thải vô cơ: như chai lọ, nhựa các loại (polyetylen, túi nilon,…), các loại vô cơ khó phân hủy, phải sau rất nhiều năm mới phân hủy, một số loại sau khi phân hủy tạo thành nhiều chất độc hại làm ô nhiễm đất đai và nguồn nước. - Rác thải sinh hoạt Là chất thải có liên quan đến hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu là từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm thương mại.
Có các thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, đất, đã, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa, tre, gỗ, lông gà vịt, vải, giấy, rơm, xác động vật,… - Chất thải rắn Chất thải rắn là các loại vật chất ở thể rắn như vật liệu, đồ vật bị thải ra từ một quá trình cụ thể của hoạt động sản xuất, dịch vụ, sinh hoạt. Chất thải rắn bao gồm các chất hữu cơ như thức ăn thừa, giấy, vải, cao su, lá cây rụng, …và các chất vô cơ như thủy tinh, thiếc, đất cát,… (Nguyễn Đình Hương, 2003) [7] 2. Nguồn gốc phát sinh Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải bao gồm: n 6 Nhà dân, khu Cơ quan, Nơi vui chơi, dân cư trường học giải trí Chợ, bến xe Bệnh viện, cơ Rác thải sở y tế Giao thông, xây Chính quyền Khu công dựng địa phương nghiệp, nhà Hình 2.1: Nguồn phát sinh chất thải (Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, 2005) [5] 2.
Thành phần rác thải. Thành phần chất thải rắn biểu hiện sự đóng góp và phân phối của các phần riêng biệt mà từ đó tạo nên dòng chất thải, thông thường được tính bằng phần trăm khối lượng. Thông thường trong rác thải đô thị, rác thải từ các khu dân cư và thương mại chiếm tỷ lệ cao nhất từ 50-75%. Phần trăm đóng góp của mỗi thành phần chất thải rắn giá trị phân bố sẽ thay đổi tùy thuộc vào sự mở rộng các hoạt động xây dựng, sửa chữa, các dịch vụ đô thị cũng như công nghệ sử dụng trong xử lý nước.
Thành phần riêng biệt của chất thải tùy thuộc vào vị trí địa lý, thời gian, mùa trong năm, điều kiện kinh tế và thu nhập của từng quốc gia. Rác thải sinh hoạt chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lượng rác thải rắn của các đô thị Việt Nam, khoảng 80%, có thành phần rất phức tạp. Thành phần lý hóa của chất thải khác nhau tùy thuộc vào từng địa phương, vào khí hậu, điều kiện n 7 kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thành phần rác thải sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam theo các nghiên cứu của Trần Hiếu Nhuệ, 2001 được thể hiện ở Bảng 2.1: Thành phần rác thải sinh hoạt tại các đô thị Việt Nam.
% trọng lượng Thành phần Khoảng giá trị Trung bình Rác thải thực phẩm 6 – 25 15 Giấy 24 - 45 40 Carton 3 - 15 4 Chất dẻo 2–8 3 Vải vụn 0–4 2 Cao su, da vụn 0–4 1 Sản phẩm vườn 0 – 20 12 Gỗ 1–4 2 Thủy tinh 4 – 16 8 Can hộp 2–8 6 Kim loại không thép 0–1 1 Kim loại thép 1–4 2 Bụi, tro, gạch 0 – 10 4 Tổng hợp 100 (Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, 2001) [8] 2. Tính chất chất thải rắn đô thị Chất thải rắn (CTR) sinh hoạt tồn tại ở mọi dạng vật chất như rắn, lỏng, khí. Ta có thể các định khối lượng, thể tích rõ ràng. Một số chất thải tồn tại dưới đạng khó xác định như nhiệt, phóng xạ, bức xạ,… Dù tồn tại ở dạng nào thì tác động gây ô nhiễm của chất thải là do các thuộc tính lý hóa sinh của chúng trong đó thuộc tính hóa học là quan trọng nhất, bởi vì trong những điều kiện nhất định các chất hóa học có thể phản ứng với nhau hoặc tự chuyển đổi sang dạng khác để tạo ra chất mới và dĩ nhiên là có thể hình thành những chất n 8 gây ô nhiễm nghiêm trọng hơn sẽ gây ra hiện tượng “cộng hưởng ô nhiễm” sẽ rất nguy hiểm.
Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt tới kinh tế xã hội, môi trường và sức khỏe con người Có thể gây ra những vấn đề khác nhau về kinh tế xã hội và môi trường liên quan tới rác thải như sau [4]: 2. Những vấn đề kinh tế xã hội - Rác thải sinh hoạt còn tồn đọng ở các khu vực là nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ bệnh dịch, là nguy cơ đe dọa đến sức khỏe con người.