Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Hiện trạng các loài Rái cá ở trên thế giới và ở Việt Nam 1. Rái cá thường (Lutra lutra) Sách đỏ Việt Nam 2007: Sẽ nguy cấp (VU) Nghị định 32/2006/NĐ – CP: Nhóm IB Sách đỏ IUCN 2012: Gần đe doa (NT) CITES Phụ Lục I Hình 1. Rái cá thường Hình 1.
Rái cá lông mượt Hình 1. Rái cá vuốt bé (Nguồn: Nguyễn Văn Nhuận) c 4 Rái cá thường chủ yếu xuất hiện ở miền bắc và miền trung Việt Nam bao gồm cả khu vực dãy núi Hoàng Liên Sơn, khu vực rừng đất thấp Kẻ Gỗ/Khe Nét, và vùng núi đá vôi cao nguyên phía bắc. Tiêu bản Rái cá này ở Việt Nam đã được thu thập ở độ cao 1550m so với mực nước biển, loài này cũng đã được tìm thấy ở độ cao từ 450 đến 3600m so với mực nước biển ở các quốc gia khác ở Đông Nam Á ([6], [7], [18]). Rất ít thông tin liên quan đến sinh cảnh sống của loài Rái cá thường hiện có ở Việt Nam ([7], [12], [18]).
Sinh cảnh sống: Rái cá thường thích nghi với nhiều dạng sinh cảnh sống ở nước khác nhau. Chúng được tìm thấy ở biển, ở dãy núi Himalaya, và ở nước lợ, nước mặn, cũng như nước ngọt. Chúng sinh sống ở các vùng đất thấp, cao nguyên, ở những nơi có sông, suối, hồ, đầm lầy, cánh đồng lúa và các khu vực duyên hải ven biển. Ở các vùng sinh sống khác nhau, Rái cá thay đổi và thích nghi với các đặc điểm sinh cảnh sống nơi đó.
Tuy nhiên, hầu hết sự có mặt của chúng có liên quan đến nguồn cung cấp thức ăn, nước ngọt và thảm thực vật ven bờ nơi chúng có thể nghỉ ngơi, chải lông, và xây dựng hang ở ở những nơi có rễ cây, gỗ, đất, đá phù hợp (Nguồn: http://www. Tuy nhiên, hiện trạng hiện tại trong vùng sinh cảnh sống vẫn chưa xác định được một cách rõ ràng. Hiện tại, sự tồn tại của loài đã c 5 được ghi nhận chỉ ở một số ít khu vực ở Thái Lan [7], Campuchia [29] và Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long [22]. Rái cá lông mũi chia sẻ vùng sinh sống với Rái cá vuốt bé và Rái cá lông mượt, thậm chí ở Sumatra chúng chia sẻ vùng sinh sống với Rái cá thường.
Ở Việt Nam, việc điều tra Rái cá lông mũi bắt đầu kể từ năm 1925. Năm 1932, Osgood căn cứ vào một tiêu bản chưa rõ nguồn gốc ở miền trung Việt Nam được phân tích từ các mẫu vật thu thập được từ năm 1925 đến năm 1929 đã công bố ghi nhận đầu tiên về Rái cá lông mũi ở Việt Nam. Năm 1941, Pocock đã công bố 2 ghi nhận về loài này: 01 ghi nhận ở huyện Long Xuyên, tỉnh An Giang (tọa độ 10°23N, 105°25'E) và một ghi nhận khác ở thị trấn Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế (tọa độ 16°28'N, 107°36'E). Tiếp theo đó thì chưa có ghi nhận nào về loài Rái cá lông mũi trong 36 năm tiếp theo.
Các cuộc điều tra động vật ở miền bắc và miền trung Việt Nam đã không tìm thấy dấu hiệu nào của loài này. Ở miền bắc Việt Nam, vì lí do chiến tranh, các nhà khoa học đã không thể tiến hành cuộc điều tra về loài này kể từ cuối năm 1950 đến đầu những năm 1970. Sau chiến tranh, năm 1975 các nhà khoa học Việt Nam đã tiến hành những nghiên cứu về động vật hoang dã ở miền nam Việt Nam. Năm 1977, hai mẫu vật về Rái cá lông mũi đã được thu thập: 01 mẫu vật ở huyện Ngọc Hiển tỉnh Cà Mau (tọa độ xấp xỉ 8°33'N, 105°15'E), và một mẫu vật khác ở huyện Phùng Hiệp tỉnh Cần Thơ (tọa độ xấp xỉ 9°49'N, 105°50'E).
Tuy nhiên, những khó khăn về kinh tế ở Việt Nam đã không cho phép các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục các cuộc điều tra một cách có hệ thống về Rái cá lông mũi. Kết quả loài Rái cá này ở Việt Nam đã không được ghi nhận trong suốt 24 năm tiếp theo. Nguyễn Xuân Đặng [25] đã công bố ghi nhận về quần thể Rái cá lông mũi đang sinh sống tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng tỉnh Kiên Giang. c 6 Hiện tại vùng sinh sống phân bố địa lý của Rái cá lông mũi chắc chắn được xác nhận ở 05 địa điểm sau: Quốc gia/vùng Địa điểm Bằng chứng Tài liệu lãnh thổ tham khảo Thái Lan Vùng đất ngập nước Bẫy sống, bẫy ảnh, [14] than bùn Toa Daeng , quan sát tỉnh Narathiwat Thái Lan Khu bảo tồn động vật Quan sát, bẫy ảnh [27] hoang dã Khao Banthad tỉnh Trang Việt Nam Vườn Quốc gia U Quan sát, bẫy ảnh [25] Minh Thượng Campuchia Hồ Tonle Sap Da Rái cá, quan [26] sát, bẫy ảnh Sumatra Huyện Sekayu, Miền Bị chết trên đường [20] nam Sumatra Sinh cảnh sống: Có ít thông tin về loài này sinh sống ở các khu rừng than bùn ngập nước và các vùng nước duyên hải ven bờ và nông (http://www.
Loài này được tác giả Osgood(1932) cho là phổ biến hơn loài Rái cá thường L. lutra ở Thái Lan [18] và được cho là loài Rái cá phổ biến nhất ở khu vực sông MêKông. Có 7 ghi nhận về loài Rái cá đang bị đe dọa toàn cầu này ở Việt Nam, một ghi nhận trong số đó là quan sát trực tiếp [10], 6 ghi nhận còn lại là từ các dấu chân, một báo cáo phỏng vấn [56], một quan sát c 7 chưa được xác nhận [11] và hai ghi nhận chưa nói rõ về kiểu ghi nhận [1]. Ghi nhận cuối cùng là từ một mẫu vật bảo tàng nhưng chỉ ghi là thu được ở miền trung Việt Nam.
Chưa có số liệu về khu vực phân bố của loài này theo độ cao ([18], [31]). Các quần hợp sinh cảnh sống của loài này bao gồm các sinh cảnh thủy sinh: hồ, sông, suối, kênh, ao, các bãi sình lầy có nước ([4], [5], [6], [18], [21]). Sinh cảnh sống: Rái cá lông mượt thích sống ở các con sông, hồ lớn, các khu rừng ngập nước than bùn, rừng ngập mặn ven biển, các cửa sông và các cánh đồng lúa có thảm thực vật phong phú và đa dạng để làm nơi trú ẩn và chạy trốn, và các khu vực có đá hoặc đất sâu để đào hang. Chúng xuất hiện phổ biến ở các sinh cảnh sống đất thấp, tuy nhiên chúng cũng được ghi nhận ở độ cao 1830m (Vân Nam, Trung Quốc) (http://www.
Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea) Sách đỏ Việt Nam 2007: Sẽ nguy cấp (VU) Nghị định 32/2006/NĐ – CP: Nhóm IB Sách đỏ IUCN 2012: Sẽ nguy cấp (VU) CITES Phụ Lục II Loài này có phân bố tương đối rộng rãi với những báo cáo ghi nhận từ các vùng núi đá vôi miền bắc, khu vực đất thấp Kẻ Gỗ/Khe Nét, khu vực rừng đầu nguồn đất thấp Đồng Nai và vùng duyên hải. Loài này được tìm thấy ở các khu vực rừng thường xanh thấp và đất thấp, rừng than bùn, các khu vực đất ngập nước ngọt và các khu vực đất ngập nước duyên hải ven biển. Ở Việt Nam, loài này được ghi nhận ở độ cao từ 50m đến 600m, thậm chí loài này cũng đã được tìm thấy ở độ cao trên 1500m ở các quốc gia khác [9]. Tuy nhiên, chỉ có 9 ghi nhận đã được xác nhận về loài này được tìm thấy và chỉ có 5 ghi nhận về loài này có được trong 10 năm trở lại đây.
c 8 Sinh cảnh sống: Rái cá vuốt bé thích sống ở các khu vực nước nông với nguồn cung cấp thức ăn phong phú. Chúng có khả năng thích ứng với khí hậu cao, có mặt từ các vùng đất ngập nước duyên hải nhiệt đới đến các con sông suối ở vùng núi. Chúng sinh sống tại các khu rừng than bùn và nước ngọt, các cánh đồng lúa, sông, suối, hồ, rừng ngập mặn, và các vùng duyên hải. Ở các khu vực vùng núi, chúng thường sống ở các con suối trong rừng chảy xiết có đá.
Thức ăn ưa thích của chúng là động vật giáp xác và động vật thân mềm (http://www. Nhận dạng các loài Rái cá ở Việt Nam 1. Rái cá thường (Lutra lutra) Tên địa phương: Rái cá chân chó Chiều dài cơ thể: 46.7 – 70cm, Chiều dài đuôi: 25 – 38cm, Trọng lượng cơ thể: 5 – 7kg. Đặc điểm nhận dạng: Bộ lông thô màu nâu, đầu mỗi sợi lông có màu nhạt hơn làm cho bộ lông trông có vẻ thô ráp.
Đầu tròn, mõm rộng. Tai nhỏ và tròn. Rái cá lông mũi (Lutra sumatrana) Tên địa phương: Rái móng, Rái cá chân chó Chiều dài cơ thể: 50 – 94cm, Chiều dài đuôi: 30 – 58cm, Trọng lượng cơ thể: 5 – 7kg. Đặc điểm nhận dạng: Bộ lông có màu nâu đậm, nhạt dần về phía bụng.
Môi trên, cằm, phía trước họng và má có màu trắng. Chóp đuôi thường có màu trắng. c 9 Lông dài phủ hết mũi, trừ lỗ mũi. Vuốt dài sắc nhọn.
Rái cá lông mượt (Lutrogale perspicillata) Tên địa phương: Rái cá chân chó Chiều dài cơ thể: 65 – 75cm, Chiều dài đuôi: 40 – 45cm, Trọng lượng cơ thể: 7 – 12kg. Đặc điểm nhận dạng: Bộ lông bóng mượt. Phần cuối đuôi bẹt. Vệt trắng chạy dài từ môi trên, má, và họng cho đến ngực.
Bàn chân rộng và màu xanh nhạt, lòng bàn chân bóng mượt. Mõm ngắn hơn và mắt to hơn ở Rái cá thường. Rái cá vuốt bé (Aonyx cinerea) Tên địa phương: Rái cá chân vịt, Rái cá cùi Chiều dài cơ thể:: 45 – 55cm, Đuôi: 25 – 35cm, Trọng lượng cơ thể: 2 – 3kg. Đặc điểm nhận dạng: Thân ngắn, mập.
Vuốt rất ngắn không nhô khỏi đàu ngón chân. Giữa các ngón chân có màng bơi kém phát triển. Bộ lông thường có màu nâu hơi xám với mặt dưới thân màu nhạt hơn hoặc trắng, cổ họng, cằm, môi trên màu hơi trắng. Để nhận dạng nhanh ngoài thực địa 04 loài Rái cá ở Việt Nam có thể sử dụng Bảng 1.1 để nhận dạng như sau: c 10 Bảng 1.
So sánh một số đặc điểm phân loại các loài Rái cá ở Việt Nam Loài Đặc điểm Hình dạng mũi Móng Màu sắc mũi chân lông Rái cá vuốt màu hồng Rất nhỏ Màu nâu bé hoặc tối màu nhạt Rái cá trần, lớn, hình Ngắn Màu nâu thường khiên Rái cá lông có lông, Dài Màu đen mũi tương đối nhỏ Rái cá lông Trần, tối màu, Ngắn Màu nâu mượt viền phía trên đậm màu tối hơn c 11 Hình 1. Các địa điểm thu được mẫu vật Rái cá tại Việt Nam (Nguồn: [24]) c 12 Hình 1. Sự phân bố của i) Aonyx cinerea j) Lutra sumatrana K) Lutrogale perspicilatta L) Lutra lutra (Nguồn: [32]) c 13 1.