Chương 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu Tỉnh Ninh Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ có dải đồng bằng hẹp, địa hình phức tạp, là nơi có hệ sinh thái của vùng hạn kiệt, là vùng có lượng mưa thấp nhất cả nước, khí hậu nắng nóng, khô hạn quanh năm nhưng rất thích hợp với nền kinh tế nông nghiệp vùng nhiệt đới với nhiều sản phẩm đặc thù. Day cũng là một tỉnh đất không rộng, người không đông nhưng có vị trí địa lý quan trọng nằm trên ngã ba nối liền vùng kinh tế trọng điểm Đông Nam Bộ với Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Vị trí địa lý: - Tinh Ninh Thuận nằm ở vị trí địa lý từ 11°18’14” đến 12°09°15” vĩ độ bắc va từ 108°09°08” đến 109°14’25” độ kinh Đông, xem Hình 1.
- Phía Bắc giáp tỉnh Khánh Hòa - Phía Nam giáp tỉnh Bình Thuận - Phía Tây giáp tỉnh Lâm Đồng - Phía Đông giáp biển. - Đây là một tỉnh ven biển thuộc cực nam Trung bộ, cách TP Hồ Chí Minh theo hướng Đông Bắc 350 Km. - Tổng diện tích tự nhiên : 3.358 Km? - Dân số toàn tỉnh đến cuối năm 2019 là 590. Trong đó, ở Thành thị có 211.109 người (35,8 %); ở Nông thôn có 379.
Như vậy mật độ dân số của tỉnh là 181 người/km2. Đặc điểm địa hình - Ninh Thuận có địa hình biến đối rất đa dạng và phức tạp, trong tinh vừa có địa hình miền núi vừa có trung du và đồng bằng ven biển. - Địa hình miền núi cao và trung bình chiếm 60% tổng diện tích tự nhiên, có cao độ mặt dat tự nhiên từ 800 - 1000 m. Trong vùng này có đỉnh cao nhất là Hòn Chon (xã Phước Bình) 1978 m, phía Tây Nam có đỉnh núi Cà Ná (Ninh Phước) cao đến 1528 m, phía Đông Bắc là núi Chúa có cao độ 1040 m.
- Vùng bán sơn địa có diện tích 20 % tổng diện tích tự nhiên. Đây là vùng đồi go xen lẫn một ít diện tích bằng phẳng, cao độ mặt đất tự nhiên từ 30m đến 200m. - Vùng đồng bằng ven biến chiếm khoảng 20 % tổng diện tích tự nhiên, được phân bé chủ yếu ở hạ lưu của sông Cái Phan Rang và sông Lu. Đây là vùng tương đối bằng phẳng, ruộng đất tập trung, cao độ biến đôi từ 2 m đến 20 m.
- Tóm lại đại bộ phận diện tích của Ninh Thuận có địa hình dốc nên nước tập trung nhanh thường gây lũ lớn cho hạ lưu tròn mùa mưa lũ. Vùng bán sơn địa và vùng đồng bằng có độ dốc bé hơn nhưng cũng bị chia cắt mạnh bởi sông suối và gò đôi nên công trình chuyên nước tưới rất khó khăn và tốn kém.1 Bản đồ hành chính tỉnh Ninh Thuận Nguồn: Trang thông tin điển tử Báo Ninh Thuận 1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu trước có liên quan 1. Nghiên cứu nước ngoài Trên thé giới, có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hạn hán, nhưng do tính phức tạp của hiện tượng này, đến nay vẫn chưa có một phương pháp chung cho các nghiên cứu về hạn hán.
Dé đánh giá hạn hán, các tác giả thường sử dụng yếu tố bốc hơi, nhiệt độ và giáng thủy. Giáng thủy là một đại lượng rất quan trọng vì sự biến đôi của những hình thế giáng thủy có thể dẫn đến ngập lụt hoặc hạn hán ở những vùng khác nhau. Chính vì vậy, thông tin về sự biến đổi giáng thủy theo không gian cũng như theo thời gian là không chỉ mang ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Nghiên cứu của Yoshi Wada và Niko Wanders (2015) đã phân tích ưu điểm, nhược điểm của 18 chỉ số hạn hán bao gồm cả chỉ số hạn khí tượng, chỉ số hạn thủy văn, chỉ số độ âm, rồi lựa chọn ra các chỉ số thích hợp dé ap dung phan tich cac dac trưng của han hán trong năm vùng khí hậu khác nhau trên toàn cầu: vùng xích dao, vùng khô hạn cực, vùng nhiệt độ ấm, vùng tuyết, vùng địa cực.
Yingzhi Lin (2013) và cộng sự đã nghiên cứu các ảnh hưởng kinh tế của hạn hán vào sản xuất nông nghiệp ở Bắc Trung Quốc. So với các tác động kinh tế trực tiếp, có những khó khăn lớn trong việc đánh giá các tác động kinh tế gián tiếp của hạn hán, vốn đã tụt hậu nghiêm trọng so với nhu cầu thông tin cấp bách cho việc ra quyết định. Nghiên cứu này cô gắng giải quyết sự khó khăn trong việc đánh giá tác động của hạn hán đối với biến động giá nông sản bằng cách xây dựng mô hình cân bằng một phần mô tả quá trình cân bằng cung và cầu một cách định lượng. Sử dụng mô hình này, một phân tích kịch bản được áp dụng dé đánh giá sự biến động giá của các sản phẩm nông nghiệp do hạn hán ở Bắc Trung Quốc.
Kết quả cho thấy không có tác động lớn của hạn hán đối với giá thị trường của tám sản phẩm nông nghiệp chính. Ngay cả khi xảy ra hạn hán nghiêm trọng ở miền Bắc Trung Quốc, giá thị trường của các sản phâm nông nghiệp sẽ tăng không quá 3,59%, thấp hơn biến động giá thị trường bình thường của các sản phẩm nông nghiệp của Trung Quốc. Nghiên cứu này cung cấp một công cụ dé đánh giá tác động kinh tế gián tiếp của hạn hán. Kết qua nghiên cứu điển hình này có thể hỗ trợ việc ra quyết định cho quy định thị trường thực phẩm của Trung Quốc.
Rodrigo Maia và cộng sự (2015) đánh giá kinh tế xã hội về tác động hạn hán, liên quan đến các đặc điểm cung và cầu chính của một khu vực (nguồn nước vả các mục đích sử dụng liên quan) và các tác động liên kết thủy văn của các tình huống hạn hán. Hơn nữa, nó mô tả phương pháp áp dụng quy trình vào thực tế Bồ Đào Nha và dir liệu hiện có làm cơ sở cho mức độ nghiêm trọng của han hán là tập trung vào hai khu vực đễ bị hạn hán ở Bồ Đào Nha: Guadiana và lưu vực sông Ribeiras do Algarve. Về các đặc thù chính của các nghiên cứu điển hình được giới thiệu, các hoạt động kinh tế (và các lĩnh vực phụ thuộc vào nước) được xem xét cho phương pháp này là các ngành cấp nước nông nghiệp và đô thị. Đối với từng lĩnh vực đó, các quy trình đánh giá cụ thể được phát triển để ước tính các tác động kinh tế tương ứng đo tình hình hạn hán gây ra trong lĩnh vực phân tích.
Một đánh giá toàn cầu về mức độ liên quan kinh tế xã hội của các tác động hạn hán trong một khu vực được đảm bảo thông qua so sánh tổng tác động kinh tế ước tính với mức trung bình hàng năm của Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khu vực, cho phép so sánh kết quả cho các khu vực phân tích khác nhau. Phương pháp này có thé áp dụng cho bat kỳ khu vực nào có dit liệu thủy văn và sử dụng nước chung và được phát triển dé hỗ trợ quản lý hạn hán và áp dụng trên hệ thống cảnh báo sớm hạn hán. Ji-Wan Lee và cộng sự (2022) phân tích mối tương quan giữa thông tin hạn hán và kinh tế xã hội (SEDI) dựa trên các dit liệu hạn hán nông nghiệp và dé xác định xem SEDI có thể cung cấp thông tin đáng tin cậy về thiệt hại do hạn hán nông nghiệp hay không. SEDI được chia thành các khía cạnh sau: thâm hụt nước, an ninh và hỗ trợ nước, thiệt hại và tác động kinh tế, và tác động môi trường và vệ sinh.
Hệ số tương quan giữa SEDI và tám bộ đữ liệu thống kê nông nghiệp đao động từ 0,74 đến 0,89. Trong thời kỳ tưới khô vừa phải và không tưới, mối quan hệ giữa SEDI và chỉ số hạn hán hồ chứa nông nghiệp (RDI) được chứng minh bằng đặc tính hoạt động của máy thu và điện tích dưới đường cong lần lượt là 0,60 và 0,68. Các giá trị tương quan chéo giữa SEDI va RDI dao động từ -0,48 đến -0,42. Theo phân tích tương quan chéo, SEDI đã có thê phát hiện hạn hán sớm hơn một tháng so với RDI có thể làm.
Do đó, phương pháp đề xuất của các tác giả có thể góp phần phát triển hệ thống cảnh báo sớm dựa trên tác động dé quan lý hạn hán nông nghiệp. Nghiên cứu trong nước Huỳnh Thị Lan Hương (2020) đánh giá rủi ro do hạn hán cho khu vực Trung Trung Bộ dựa trên cách tiếp cận của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu 10 (IPCC) trên cơ sở phân tích các yếu tố hiểm hoa, mức độ phơi bày và tính dé bị ton thương. Dữ liệu lượng mưa và lượng bốc hơi tại các trạm quan trắc được sử dụng dé tính toán mức độ hiểm hoa. Dữ liệu về kinh tế - xã hội được thu thập từ điều tra, khảo sát thực dia va niên giám thống kê được sử dụng để tính toán mức độ phơi bày và tính dé bị tôn thương.
Kết quả đánh giá cho thấy, rủi ro do han hán lớn nhất ở tỉnh Quang Bình, đặc biệt ở các huyện Lệ Thủy và Bồ Trạch. Trần Thị Tuyết (2018) áp dụng chỉ số nhạy cảm hạn kinh tế - xã hội đánh giá tinh dé bị tổn thương do hạn hán ở tinh Ninh Thuận. Chi số nhạy cảm được tổng hợp từ nhiều yếu tố như các nguồn lực sẵn có, tính da dang thu nhập, đa dang việc làm. Hạn hán được tính theo dữ liệu lượng mưa hàng năm của Tỉnh.
Kết quả cho thấy hạn hán có sự tác động mạnh vào chỉ số nhạy cảm và Tác giả đề xuất tỉnh Ninh Thuận cần thay đổi nhận thức: xem hạn hán là nhân tố bình thường của hiện tượng tự nhiên, chuyên từ phản ứng cứu trợ sang tiếp cận ngăn ngừa, giảm nhẹ, chuẩn bị sẵn sàng trên cơ sở nâng cao nguồn lực sẵn có, xây đựng các chiến lược phát triển kinh tế và sử dụng lao động phù hợp với thế mạnh của tỉnh. Nguyễn Hoàng Khánh Linh và cộng sự (2017) nghiên cứu kết hợp công nghệ GIS và viễn thám đề xây dựng bản đồ phân vùng nguy cơ hạn hán dựa trên chỉ số khô hạn nhiệt độ — thực vật (TDVI), qua đó làm cơ sở dé đánh giá tác động của hạn hán đến đất sản xuất nông nghiệp tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Kết quả nghiên cứu cho thấy phần diện tích mà hạn hán tác động lên đất sản xuất nông nghiệp gồm đất trồng lúa, đất trồng cây hằng năm và đất trồng cây lâu năm tại huyện Phong Điền với 4 mức độ là khá lớn. Trong đó vùng khô hạn nhẹ có diện tích là 1.539,66 ha, khô hạn trung bình là 8.