phần Mở đầu và Kết luận, Nội dung của Luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong tố tụng dân sự Chƣơng 2: Ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong tố tụng dân sự theo pháp luật hiện hành Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong tố tụng dân sự và kiến nghị. 7 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, đặc điểm về ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm về người đại diện theo pháp luật của đương sự Thuật ngữ “Tố tụng dân sự” đƣợc hiểu là trình tự, thủ tục hoạt động do pháp luật quy định cho việc xem xét giải quyết và thi hành các vụ việc dân sự.
Trong tố tụng dân sự, các chủ thể tham gia tố tụng bao gồm đƣơng sự, ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự, ngƣời đại diện của đƣơng sự, ngƣời làm chứng, ngƣời phiên dịch, ngƣời giám định. Trong đó, ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong pháp luật tố tụng dân sự là một chủ thể đóng một vai trò hết sức quan trọng trong tố tụng dân sự. Để tìm hiểu rõ khái niệm ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự trong tố tụng dân sự thì trƣớc hết cần phải làm rõ bản chất của đại diện chủ thể có thể là ngƣời đại diện của đƣơng sự. “Đương sự” là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận dƣới nhiều góc độ.
Đã có nhiều khái niệm về đƣơng sự đƣợc đƣa ra nhƣng theo Từ điển Tiếng Việt thì “đƣơng sự là ngƣời, là đối tƣợng trực tiếp của một việc đang giải quyết” [24, tr.346], còn theo Từ điển Từ và ngữ Hán Việt thì đƣơng sự là ngƣời có liên quan trực tiếp đến một việc. Trong khoa học pháp lý thì đƣơng sự đƣợc hiểu “là ngƣời có quyền, nghĩa vụ đƣợc giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc một vụ án” [7, tr.Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, đƣơng sự đƣợc hiểu là ngƣời tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà nƣớc thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Về phƣơng diện pháp luật, Khoản 1 Điều 68 BLTTDS năm 2015 đã đi theo hƣớng liệt kê các chủ thể có thể đƣợc coi là đƣơng sự. Theo đó, đƣơng sự trong vụ án dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bao gồm nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; đƣơng sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức cá nhân bao gồm ngƣời yêu cầu giải quyết việc dân sự và ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ 8 z liên quan.
BLTTDS năm 2015 đã quy định rõ hơn về đƣơng sự so với BLTTDS sửa đổi năm 2011 theo hƣớng có sự phân biệt đƣơng sự trong việc dân sự và trong vụ án dân sƣ. Khi tham gia vào quan hệ pháp luật, các chủ thể thƣờng tự mình thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ.Tuy vậy, trong một số trƣờng hợp, các chủ thể khác có thể thay mặt đƣơng sự để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ và từ đó hình thành quan hệ đại diện.Xét về lý luận thì yếu tố quyền, lợi ích là yếu tố chủ yếu để phân biệt đƣơng sự với ngƣời đại diện của họ. Đại diện là một quan hệ pháp lý theo đó ngƣời đại diện độc lập thực hiện sự thể hiện ý chí làm phát sinh hậu quả pháp lý trực tiếp đối với ngƣời đƣợc đại diện. Xét từ góc độ lý luận có thể thấy đại diện là một chế định pháp lý thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong cách thức tham gia vào giao dịch dân sự của các chủ thể.Vấn đề đại diện trong dân sự đã đƣợc đề cập trong một số giáo trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo luật học.
Trang 157, Giáo trình Luật Dân sự của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội, nhà xuất bản Công an nhân dân năm 2002 định nghĩa “Đại diện là một quan hệ pháp luật”. Chủ thể của quan hệ pháp luật đó bao gồm ngƣời đại diện và ngƣời đƣợc đại diện.Ngƣời đại diện nhân danh ngƣời đƣợc đại diện xác lập quan hệ với ngƣời thứ ba vì lợi ích của ngƣời đƣợc đại diện. Ngƣời đƣợc đại diện tiếp nhận những hậu quả pháp lý từ quan hệ do ngƣời đƣợc đại diện xác lập, thực hiện đúng thẩm quyền đại diện. Nghiên cứu pháp luật cho thấy BLDS năm 2015 đã định nghĩa “Đại diện là việc cá nhân, pháp nhân (sau đây gọi chung là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi chung là người được đại diện) xác lập và thực hiện giao dịch dân sự” (Điều 134, khoản 1 BLDS 2015).
Định nghĩa đại diện theo quy định của BLDS 2015 đã chỉ rõ chủ thể đại diện là cá nhân và pháp nhân, khác với BLDS 2005 chỉ xác định đại diện là “một ngƣời”. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp của BLDS năm 2005 trƣớc đây thì chỉ có cá nhân đƣợc tham gia đại diện cho chủ thể khác khi tham gia quan hệ pháp luật dân sự. BLDS 2015 đã mở rộng hơn chủ thể về đại diện, theo đó pháp nhân cũng là ngƣời đại diện, nhân danh cá nhân hoặc pháp nhân để tham gia quan hệ pháp luật. Tuy nhiên, định nghĩa về đại diện trong Điều 139 BLDS 9 z năm 2005 và Điều 134 BLDS năm 2015 đều đi theo hƣớng đại diện là việc chủ thể này nhân danh và vì lợi ích của chủ thể khác.
Khi bình luận quy định của BLDS năm 2005 về đại diện, TS.Ngô Huy Cƣơng đã nhận định nếu phân tích theo đúng chữ nghĩa của định nghĩa này, thì hành động của ngƣời đƣợc đại diện vƣợt ra ngoài phạm vi đại diện, và việc gây thiệt hại cho ngƣời khác do phạm vi của ngƣời đại diện trong khi thực hiện đại diện có thể không nằm trong phạm vi điều chỉnh của chế định đại diện.Ngƣời đại diện thực hiện hành vi nhân danh ngƣời đƣợc đại diện nên cần phải có một giới hạn nhất định cho hành vi đó. Dƣới góc độ tố tụng dân sự thì ngƣời đại diện của đƣơng sự là ngƣời tham gia tố tụng thay mặt đƣơng sự thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đƣơng sự trƣớc tòa án. Việc tham gia tố tụng dân sự của ngƣời đại diện của đƣơng sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự trong trƣờng hợp họ là ngƣời bị hạn chế hoặc bị mất năng lực hành vi tố tụng, giúp cho đƣơng sự, cơ quan tiến hành tố tụng làm rõ đƣợc sự thật của vụ việc, vụ án dân sự. Việc nghiên cứu cho thấy pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thƣờng không có các quy định chi tiết về việc đại diện trong tố tụng dân sự.
Vấn đề đại diện trong tố tụng dân sự đƣợc dẫn chiếu theo các quy định của pháp luật dân sự. Xét về bản chất thì đại diện trong tố tụng dân sự đƣợc thiết lập trên nguyên lý của đại diện trong quan hệ dân sự.Theo đó, ngƣời đại diện trong tố tụng dân sự phải nhân danh và vì lợi ích của đƣơng sự trong phạm vi đại diện. Đƣơng sự đƣợc đại diện trong tố tụng dân sự có thể là nguyên đơn, bị đơn hoặc ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Họ là ngƣời đại diện theo pháp luật, tiếp nhận các hậu quả pháp lý từ quan hệ đại diện trong phạm vi thẩm quyền đại diện.
Đƣơng sự đƣợc đại diện có thể là cá nhân không có năng lực hành vi tố tụng dân sự chƣa đủ hoặc bị hạn chế năng lực hành vi tố tụng nên theo quy định của pháp luật phải có ngƣời đại diện. Các chủ thể là pháp nhân, tổ chức đại diện tập thể lao động đều hoạt động thông qua hành vi của những ngƣời có thẩm quyền đại diện cho chủ thể đó. Cơ quan cá nhân, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của 10 z ngƣời khác cũng đƣợc coi là đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự của ngƣời đƣợc bảo vệ (khoản 2 Điều 85 BLTTDS năm 2015). Pháp luật tố tụng dân sự không quy định nhƣ thế nào là ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự mà chỉ liệt kê ngƣời đại diện theo pháp luật của đƣơng sự.
Theo Từ điển Luật học thì ngƣời đại diện là cá nhân, pháp nhân nhân danh và vì lợi ích của cá nhân hoặc pháp nhân khác (sau đây gọi chung là ngƣời đƣợc đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.Việc nghiên cứu cho thấy BLDS năm 2015 không quy định trực tiếp về khái niệm ngƣời đại diện theo pháp luật nhƣ đã đƣợc quy định tại Điều 140 BLDS năm 2005: “Đại diện theo pháp luật là đại diện do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định”. Tuy nhiên, Điều 135 Bộ luật này đã có quy định về căn cứ xác lập đại diện: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện (sau đây gọi là đại diện theo ủy quyền); theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật (sau đây gọi chung là đại diện theo pháp luật)”. BLDS năm 2015 đã chia các loại đại diện theo pháp luật thành hai Điều khoản riêng biệt là đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 136 BLDS năm 2015) và đại diện theo pháp luật của pháp nhân (Điều 137 BLDS năm 2015). Theo đó, ngƣời đại diện theo pháp luật đối với cá nhân bao gồm cha, mẹ đối với con chƣa thành niên; ngƣời giám hộ đối với ngƣời đƣợc giám hộ.
Ngƣời giám hộ của ngƣời có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là ngƣời đại diện theo pháp luật nếu đƣợc Tòa án chỉ định. Ngƣời đại diện theo pháp luật đối với cá nhân còn có thể bao gồm ngƣời do Tòa án chỉ định trong trƣờng hợp không xác định đƣợc ngƣời đại diện cho ngƣời chƣa thành niên, ngƣời đƣợc giám hộ, ngƣời do Tòa án chỉ định đối với ngƣời bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân bao gồm ngƣời đƣợc pháp nhân chỉ định theo điều lệ; ngƣời có thẩm quyền đại diện theo quy định của pháp luật; ngƣời do Tòa án chỉ định trong quá trình tố tụng tại Tòa án.