CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN DE TAI NGHIEN CƯU 1. Hat nano từ tính 1. Giới thiệu Công nghệ nano là ngành công nghệ liên quan đến việc thiết kế, phân tích đặc trưng, chế tạo và ứng dụng các cau trúc, thiết bị và hệ thông bằng việc điều khiển hình dang, kích thước trên quy mô nanômét (nm, 1 nm = 10° m) [1]. Công nghệ nano trở thành một van đề hết sức thời sự và được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà khoa học.
Các nước trên thê giới hiện nay đang bước vào một cuộc chạy dua mới về phát triền và ứng dụng công nghệ nano. Đề tổng hợp vật liệu nano có hai phương thức, thứ nhất là phương thức từ trên xuống dưới (top-down) nghĩa là chia khối vật liệu lớn để cuối cùng tạo ra những đơn vị có kích thước nano và thứ hai là phương thức từ dưới lên trên (bottom-up) nghĩa là xây dựng từ những hạt cỡ phân tử hay nguyên tử để thu được kích thước nano [3]. Đặc biệt những năm gần đây. việc thực hiện công nghệ nano theo phương thức bottom-up trở thành kỹ thuật thu hút nhiều sự quan tâm.
“1 Dowder dìcì FEDFy DED í p NanoParticle DOE j te Clusters OQ Hình 1.2 Phương thức top-down va bottom-up trong tổng hợp nano.{3] Trong vài năm gần đây khoa học nano và công nghệ nano có những phát triển mạnh mẽ và hiện nay cầu trúc nano được sử dụng ở dạng hoạt động như bóng bán dẫn, bộ khuếch đại, ống dẫn truyền thuốc. trong khi trước đây cấu trúc nano thường được sử dụng ở dạng thụ động như trong sơn, các hạt nano, kim loại có cau trúc nano, polyme và gốm sứ. [4] Vật liệu nano có thể phân loại dựa trên đường kính của cầu trúc nano: - Vật liệu nano hai chiều bao gồm các ống nano, các dendrimer, dây nano có đường kính hai chiêu ở giới hạn nanomet. - - Vật liệu nano ba chiều như các phần tử lượng tử hoặc các tinh thể nano, các fullerene, các hạt, các kết tủa và chất keo có đường kính ba chiều ở giới hạn nanomet.
- Vat liệu nano một chiều như lớp phủ bề mặt, màng mỏng đa lớp và các giao diện có kích thước nano. Các vật liệu nano này được sử dụng trong nhiều thập niên ở các lĩnh vực thiết bị điện tử, hóa học và kỹ thuật. “ 1 nano- 2 nano- 3 nano- ~ dimension dimensions dimensions |"E“T— c'ự vt 4 “Ị #' '7'P 7' ' YA ' }H '⁄z ,HP'us ' F ' ' ' ' ' ' ' ' “ ` NUNG SÂN về ` ` “ ` + ae ` ` ` ' ` ko=> -+ ' ' Ú ' ' ' ' ' ' ' ' ' ' ' Kos ` \ | \ "» © H ! < 00 a NG 100 nm h. s ` ' = >» ' " h ` ` ' : i vỉ ` N ' — ` pac ! < 100 nm ' ' ' ' ‘ ' ' ' ' - Nanoparticles / Nanopowders ' ' ' ' ' ‘ ' - Nanocapsules + - Fullerenes - Dendrimers < 100 nm < 100 nm - Molecular Electronics - Nanofibres - : Quantum Dots - Thin films - Nanowires - (Carbon) Nanotubes ` ⁄ Hình 1.3 Phan loại vật liệu nano.
|5| Như vậy một vật liệu nano được định nghĩa là vật liệu có ít nhất một chiều của nó kích thước nhỏ hơn 100 nm. Vật liệu nano được khoa học rất quan tâm bởi vì nó được xem như là cầu nối giữa các vật liệu dạng khối và cau trúc phân tử hoặc nguyên tử. Cac phương pháp tong hợp Hạt nano đã được tông hợp bằng nhiều phương pháp khác nhau nhưng có thé được chia thành 3 phương pháp cơ bản: pha ran, pha khí và pha dung dịch. Hiện nay các nhà khoa học đã khảo sát một số qui trình tổng hợp hạt nano có sự kết hợp các phương pháp trên.
Tổng hợp pha ran Tong hợp pha ran bao gồm quá trình xử lý nhiệt (dé đạt được cấu trúc tinh thể) và quá trình nghiền hạt (để giảm kích thước hạt đến kích thước như mong muốn) [7]. Trước đây phương pháp này chỉ tạo ra các hạt có kích thước trung bình có giới hạn 100 nm, gần đây những cải tiễn trong kỹ thuật nghiền cho phép quá trình có thể đạt kích thước hạt cỡ 30 nm từ những vật liệu có kích thước khoảng 200 nm. Tổng hợp pha hơi Tổng hợp pha hơi: có thể sử dụng các phương pháp khử vật lí (dùng các tác nhân như điện tử [13], sóng điện từ năng lượng cao như tia gamma [14], tia tử ngoại [15], tia laser [16]) hoặc các phương pháp khử hóa hoc, hóa lí dùng các tác nhân hóa học để khử ion kim loại thành các hạt nano kim loại. Phương pháp này có ưu điểm là đơn giản, dụng cụ chế tạo không đắt tiền, tong hop được sỐ lượng lớn vật liệu.
Tuy nhiên nó lại có nhược điểm là các hạt bị kết tụ với nhau, phân bố kích thước hạt không đồng nhất, dé bị nhiễm ban từ các dụng cụ chế tạo và thường khó có thé đạt được hạt có kích thước nhỏ [8]. Trong phương pháp tao hạt từ pha hơi, sự nhiệt phần các bụi hơi chất lỏng và nhiệt phần bằng laser là những kĩ thuật rất tốt để sản xuất trực tiếp và liên tục các hạt nano từ tinh [9]. Sự khác biệt giữa nhiệt phân bụi hơi chất lỏng và nhiệt phân bằng laser là trạng thái cuối cùng của sản phẩm. Ở phương pháp nhiệt phân bụi hơi, hạt nano thường kết tụ thành từng đám còn ở phương pháp nhiệt phân laser thì các hạt phân tán tốt [10].
Ngưng tụ khí liên quan đến sự hình thành của các hạt nano, tức là ngưng tụ các nguyên tử và phân tử trong khí trơ [12]. Để kiểm soát được kích thước, hình dạng, và mức độ kết tụ hạt, có thể điều chỉnh độ chân không. thời gian làm nguội vi hạt sau khi hình thành. Một số các hạt nano của các nguyên tử kim loại có kích thước trung bình khoảng 10 nm hoặc nhỏ hơn được hình thành khi kim loại nhanh chóng bị mât năng lượng băng cách va chạm với các nguyên tử khí.
Các hạt nano kim loại như Al, Co, Cr, Cu, Fe, Ga, Mg, và Ni đã được tong hop thanh cong theo ky thuat nay [12]. Nhiệt Plasma (ví dụ khí ion hóa), là một nguồn nhiệt làm các vật liệu nóng chảy đã được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp vật liệu. Trong thực tế, quá trình phun Plasma của vật liệu lên trên cơ chất dé tạo thành lớp phủ bảo vệ đã được tiến hành thành công trong qui trình sản xuất công nghiệp trong nhiều thập kỷ. Kết quả này như là cơ sở cho các nhà nghiên cứu bắt đầu sử dụng nhiệt plasma như là một nguồn nhiệt có thể dùng để tạo ra rất nhiều loại vật liệu khác nhau nhưng lại không thích hợp dé tạo vật liệu hữu co vì nhiệt độ cao, có thé lên đến 9000 °C.
Việc sử dụng năng lượng đốt cháy hydrocarbon (hoặc hydro)-ngọn lửa oxy để nhiệt phân các chất hóa học ban đầu và điều chế các hạt nano phổ biến trong kỹ thuật tông hợp hạt nano đã được sử dụng. Trong thập ky qua, nghiên cứu đã được định hướng cao hơn hướng tới tính đồng nhất và kiểm soát quá trình nhiệt phân trong một ngọn lửa, với dự đoán hình thành các hạt nano với một phân bồ kích thước hẹp và sự kết tụ nhỏ nhất [12]. Nhiệt phân kiểu phun sương: nguyên tắc của phương pháp nảy là chất rắn được hình thành khi chất lỏng dung dịch được phun vào một chuỗi các bình phản ứng, ở đó xảy ra quá trình chất lỏng bốc bay, chất rắn ngưng tu, quá trình làm khô và nhiệt phân xảy ra ở mỗi hat chất lỏng. Kết qua thu được là chất ran xốp có thé tong hợp thành các hạt có mật độ cao.
Đây là một phương pháp đơn giản, có thé chế tạo hạt nano nhanh chóng và liên tục, các hạt tạo thành có kích thước trong khoảng 100-1000 nm [10,12]. Tổng hợp pha dung dịch Sử dụng các phương pháp chế tạo vật liệu: phương pháp thủy nhiệt, sol-gel và kết tủa. Theo phương pháp nay, các dung dịch chứa các ion khác nhau sẽ được trộn lẫn theo các tỉ lệ thích hop, sau đó dưới tác động của nhiệt độ. áp suất, các vật liệu nano được kết tủa trong dung dịch.
Qua các quá trình lọc, sây khô, vật liệu nano được hình thành. Phương pháp này có thể chế tạo các vật liệu vô cơ, hữu cơ hay kim loại [15]. Qua trình sol-gel Phuong pháp sol-gel dựa trên phan ứng polymer hóa các monomer vô cơ, gồm 4 quá trình: thủy phân, ngưng tu, say khô và nhiệt phân. Tác chất ban đầu được sử dụng thường là các alkoxide của kim loại, bị thủy phân trong nước hay alcohol va sau đó ngưng tu lại để hình thành các oxide.
Sản phẩm ở dang gel được rửa sạch, sấy khô để tách dung môi và nung ở nhiệt độ cao để phân hủy các phân tử hữu cơ còn sót lại, cuối cùng thu được hat nano oxide kim loại [17]. Kích thước của hạt có thể được điều chỉnh bằng việc thay đổi thành phần, pH và nhiệt độ của dung dịch. Phương pháp này được sử dụng phô biến dé tổng hop NPs oxide kim loại như T1O;, SnO;, CuO, ZnO, Al;Ox. Kết tua dung dich Theo phương pháp nay, các muối kim loại của chloride, nitrate hay acetate được hòa tan trong nước, sau khi thêm dung dịch base như NaOH hay NH,OH, tủa hydroxide kim loại hình thành.
Kết tủa dạng keo được rửa sạch và làm khô, sau đó được nung ở nhiệt độ cao để hình thành hạt oxide kim loại. Ưu điểm nỗi bật của phương pháp này là quy trình đơn giản, ít tốn kém và nó thường được sử dụng dé tong hợp nhiều loại NPs oxide chứa một hay nhiều kim loại. Tuy nhiên, quá trình kết tủa trong dung dich lại rất khó để kiểm soát va phân bó kích thước hạt NPs thường khá rộng. Phương pháp vị nhũ Ngoài các phương pháp trên, vi nhũ cũng là một phương pháp được dùng khá pho biến dé tạo hạt nano.
Vi nhũ của nước trong dau (water in oil) hay dung dich micelle đảo là một môi trường chat lỏng không mau, đăng hướng và 6n định về mặt động lực học. Trong phương pháp này, các hạt dung dịch nước bị bẫy bởi các phân tử chất hoạt động bề mặt phân tán trong môi trường dầu liên tục. Các cầu trúc micelle (thường có kích thước khoảng 10 nm) tạo ra sự giới hạn về không gian, làm cho sự hình thành, phát triển các hạt nano bị hạn chế và tạo nên các hạt nano rất đồng nhất.