CHƯƠNG 1 TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CUU VE CO CAU KINH TE NONG NGHIEP VA CHUYEN DOI CO CAU KINH TE NONG NGHIEP 1. Các công trình nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề chuyên đổi cơ cấu kinh tế cũng như cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngày càng được quan tâm, đặc biệt là sau thời kỳ đổi mới, đã có rất nhiều sách, đề tài, công trình và bài báo đề cập, nghiên cứu về các van dé này như: - Tác động của Nhà nước nhằm chuyên đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa — hiện đại hóa ở nước ta hiện nay, chủ biên PGS. TS Nguyễn Sinh Cúc, NXB Chính trị quốc gia (1986). Tác giả kế thừa những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tác động kinh tế của Nhà nước nhằm chuyên đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH — HĐH.
Nghiên cứu trong thời kỳ nước ta bat đầu thực hiện công cuộc đôi mới, nên trong tác phẩm vẫn còn đề cao vai trò nhà nước trong nên kinh tế. - Chuyên đổi cơ cau kinh tế theo hướng CNH — HĐH nền kinh tế quốc dân (tập l, 2) của Ngô Đình Giao do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2002 Tác phẩm đã phân tích các căn cứ lý luận và thực tiễn trong quá trình chuyên đổi CCKT và phân tích các quan điểm, phương hướng xây dựng cơ cấu kinh tế có hiệu quả ở Việt Nam. Tác giả đã kế thừa một số quan điểm và phương hướng chung của chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng CNH — HDH. - Sự chuyền đổi cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa ở Đông A và Việt Nam của Bùi Tat Thắng - NXB Khoa học xã hội (1994) và (2006).
Tac giả kế thừa kinh nghiệm chuyển đổi CCKT ngành trong quá trình CNH của các nền kinh tế mới dé Việt Nam là một nước đi sau phải tận dụng dé phát triển kinh tế nhanh, vững chắc. - Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông thôn - những van đề lý luận và thực tiễn của PGS.TS Lê Đình Thắng, NXB nông nghiệp (1998). Tác giả nêu lên sự cần thiết chuyển đổi cơ cau kinh tế nông thôn trong thời kỳ nước ta dang đổi mới và các giải pháp vĩ mô nhằm thúc đây chuyên đổi CCKT nông thôn. Dé thúc day chuyền đổi kinh tế nông thôn nhanh thì bên cạnh các chính sách vĩ mô, van dé quan trọng là phải có các chính vi mô dé tạo điều kiện, kích thích, thúc đây các hộ dân các cơ sở sản xuất các địa phương thực sự nhận thấy sự cần thiết phải chuyên đổi và chính họ đầu tư dé chuyển đổi cơ cấu kinh tế.
- Chuyên đổi cơ cau và xu hướng phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng CNH — HĐH từ thế ky XX đến thế kỷ XXI trong thời đại kinh tế tri thức của tác giả Lê Quốc Sử - NXB Thống kê (2001). Tác giả xác định vai trò quan trọng của nông nghiệp trong nên kinh tế va khang định chuyền đổi cơ cấu kinh tế là tất yếu khách quan; Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là cần thiết và phải xuất phát từ yêu cầu của thị trường. Sản phẩm nông nghiệp mà thị trường yêu cầu hiện nay không phải như trước đây là “ăn no mặc ấm” mà phải là “ăn ngon, mặc đẹp”. Đánh giá những kết quả đạt được cũng như các van đề tồn tại yếu kém của kinh tế nông nghiệp trong thé ky XX, từ đó tác giả đề xuất những định hướng cho phát triển nông nghiệp Việt nam trong thế ky XXI, trong nên kinh tế thi trường, nên kinh tế trí thức.
- Chương trình “Chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011 — 2015” (Ban hành kèm theo Quyết định số 13/2011/QĐ-UBND ngày 09 tháng 3 năm 2011 của Ủy ban nhân dân thành phố HCM) Chương trình chuyên đổi cơ cấu kinh tế của thành phố nói chung và chuyền đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn nói riêng đã được Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố lần VIII xác định là 1 trong 5 chương trình đòn bay của thành phố với mục tiêu: Phát triển nông nghiệp thành phố theo hướng nông nghiệp đô thị hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, ồn định, bền vững; chủ động ứng phó với biến đồi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh. Phan đấu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp bình quân giai đoạn 2011 - 2015 đạt trên 6%/nam, giá trị gia tăng trên 5%/năm. Giá tri sản xuất bình quân trên 1 ha đạt 220 triệu đồng/năm. Chuyên đổi cơ cau kinh tế nông nghiệp; kinh tế nông thôn và chuyên đổi cơ cau cây trồng, vật nuôi theo quy hoạch; hình thành và phát triển những vùng sản xuất giống chất lượng cao, sản xuất nông sản hàng hóa tập trung và chuyên canh; đây mạnh ứng dụng tiễn bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới, nhất là công nghệ sinh học để lai tạo giống, nâng cao năng suất, chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và khả năng cạnh tranh của nông sản.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn của nước ta nên có điều kiện lớn để phát triển nông nghiệp. Đây là thị trường tiêu thụ nông sản lớn nhất cả nước không chỉ tiêu thụ trong nước mà cả xuất khẩu, đồng thời là nơi cung ứng các yếu tố đầu vào chất lượng cho sản xuất nông nghiệp kể cả yếu tố về vốn, khoa học công nghệ. Thành phố cũng đã có kinh nghiệm từ việc thực hiện có hiệu quả chương trình và chính sách khuyến khích chuyên đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp giai đoạn 2006 — 2010. - Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày 10/6/2013.
Đánh giá kết quả ngành nông nghiệp. Sau 25 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực, tạo việc làm và thu nhập cho 70% dân cư, là nhân tố quyết định xóa đói giảm nghèo, góp phan phát triển kinh tế quốc dân và ôn định chính trị - xã hội. Nông nghiệp Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc: giá trị sản xuất và giá trị gia tăng đã tăng liên tục trong một thời gian dai, sản lượng hàng hóa ngày càng tăng, xuất khâu tăng trưởng với tốc độ cao, thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn ngày cảng được cải thiện. Tuy nhiên, tăng trưởng nông nghiệp trong thời gian qua chủ yếu theo chiều rộng thông qua tăng diện tích, tăng vụ và dựa trên mức độ thâm dụng các yêu tố vật chất đầu vào cho sản xuất (lao động, vốn, vật tư) và nguồn lực tự nhiên cao.
Mô hình tăng trưởng nông nghiệp như hiện nay mới chỉ tạo ra được khối lượng nhiều và rẻ nhưng giá trị thấp, hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên chưa cao. Xuất phát từ thực tế đó, dé thực hiện nhiêm vụ “đổi mới mô hình tăng trưởng và tái cơ cau lại nền kinh tế theo hướng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu” đề ra trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, tất yếu phải tái cơ cấu ngành theo hướng nâng cao chất lượng, giá tri gia tăng và phát triển bền vững. Mục tiêu là phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững cả về tự nhiên và xã hội, đảm bảo môi trường sản xuất nông nghiệp và nông thôn trong sạch, góp phần xóa đói giảm nghèo, thích ứng với biến đôi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất nông nghiệp; phan đấu xây dựng một nền nông nghiệp hiện đại, hiệu quả, chất lượng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước và đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới, hướng tới trở thành một cường quốc xuất khâu nông sản. Đề thực hiện được nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp, đề án đã đề ra 3 nhóm giải pháp đó là: Chuyển đổi cơ cau đầu tư; đổi mới doang nghiệp 10 Nhà nước và phát triển các thành phần kinh tế và tiếp tục đổi mới thé chế, chính sách.
- Quy hoạch tông thé phát triển nông nghiệp cả nước đến năm 2020, tam nhìn đến năm 2030 được được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02/02/2012. Trên co sở đánh giá thực trạng nông nghiệp nông thôn trong 10 năm qua dé đưa ra các định hướng và giải pháp dé tại cơ cau cũng như quy hoạch của ngành nông nghiệp. Đây là 2 tài liệu quan trọng là cơ sở để các địa phương xây dựng định hướng, giải pháp để chuyên đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp đúng hướng và phủ hợp với thực tế địa phương. - Bài viết của Thạc sỷ Lê Thế Quảng Trường Chính trị Lê Duân Quảng Trị trên website http://truongleduan.
“Thúc đây chuyền đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp Quảng Trị” Quảng Trị là tỉnh thuộc khu vực Bac Trung Bộ, điều kiện tự nhiên xã hội tương tự Quảng Bình, còn nhiều khó khăn, kinh tế phụ thuộc vào nông nghiệp là chủ yếu. Trong thời gian qua, với các cơ chế, chính sách mới được tinh ban hành đã góp phan quan trọng trong quá trình chuyên đổi cơ cau kinh tế của tỉnh theo hướng tích cực. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp bước đầu chuyền đổi theo hướng sản xuất hàng hóa và đã xóa dan tình trạng độc canh cây lương thực. Cơ cau diện tích các loại cây trồng có những thay đôi tích cực theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế, nhất là các cây phục vụ xuất khâu (hồ tiêu, cao su, cà phê, san, lac.
- Đề tài “Chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Khánh Hòa”, tac giả Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, năm 2007. Mặc dù, tinh Khánh Hòa không có các điều kiện thuận lợi dé phát triển nông nghiệp nông thôn với quy mô đất đai lớn như ở vùng đồng băng Sông Hồng 11 hay vùng đồng bằng phía Nam, nhưng tỉnh Khánh Hòa là lại có điều kiện phát triển kinh tế biển, giao thông thuận lợi, tạo điều kiện thuận lợi trong khâu tiêu thụ sản phẩm cho người nông dân sản xuất hàng hóa. Tỉnh Khánh Hòa có những nét tương đồng mà kinh tế nông nghiệp Quảng Bình có thé rút kinh nghiệm.