mở đầu quan trọng, thì việc tổ chức thực thi tốt chính sách lại đóng vai trò quyết định đối với cả chu trình chính sách công. Vì tuy có chính sách đúng đắn rồi, nhưng nếu khâu thực hiện bị xem thường hoặc thực hiện không đến nơi đến chốn thì sẽ làm cho chính sách trở nên mất ý nghĩa (không chỉ là khẩu hiệu suông, mà còn làm mất uy tín của chủ thể hoạch định chính sách công), làm cho nhân dân suy giảm niềm tin vào chính quyền nhà nước. Và hệ quả của nó khiến bất lợi cả về mặt chính trị và mặt xã hội, về lâu dài là gây nên những bất ổn cho Nhà nước và Đảng cầm quyền. Qua việc tổ chức thực hiện chính sách mới đo lường đánh giá khách quan, chính xác đối với tính đúng đắn, tính khả thi phù hợp của chính sách ấy hay không, vì thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý.
Khái niệm về thực hiện chính sách tinh giản biên chế 9 Từ khái niệm về thực hiện chính sách công, ta có thể hiểu về thực hiện chính sách tinh giản biên chế như sau: Thực hiện chính sách tinh giản biên chế là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách tinh giản biên chế thành hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng của Nhà nước về tinh gọn bộ máy Nhà nước, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Một số khái niệm khác có liên quan 1. Khái niệm Cán bộ Cán bộ là người công dân Việt Nam, họ đã được bầu cử và phê chuẩn, bổ nhiệm để nắm giữ chức danh, chức vụ theo nhiệm kỳ nhất định trong hệ thống các cơ quan của Đảng ta, Nhà nước và các đoàn thể CT-XH ở TW, ở các tỉnh và thành phố trực thuộc TW (cấp tỉnh), ở các huyện và thị xã, quận, thành phố trực thuộc tỉnh (cấp huyện), nằm trong hệ thống biên chế và được hưởng lương từ NSNN. Khái niệm công chức Theo Luật Công chức xác định: Công chức là người công dân Việt Nam, họ được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ trong hệ thống các cơ quan của Đảng ta, Nhà nước và các đoàn thể CT-XH ở cấp TW, cấp tỉnh và cấp huyện; trong các đơn vị, cơ quan thuộc CAND (mà không phải sĩ quan và hạ sĩ quan chuyên nghiệp); trong các đơn vị, cơ quan thuộc QĐND (mà không phải sĩ quan, công nhân quốc phòng và quân nhân chuyên nghiệp); và trong bộ máy quản lý, lãnh đạo của các đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng ta, Nhà và các đoàn thể CT-XH (đơn vị sự nghiệp công lập), trong hệ thống biên chế và được hưởng lương từ NSNN; đối với công chức trong bộ máy quản lý, lãnh đạo của các đơn vị sự nghiệp công lập thì việc hưởng lương được bảo đảm từ quỹ lương của các đơn vị sự nghiệp công lập theo luật định.
Khái niệm cán bộ xã, phường, thị trấn (cấp xã) 10 Cán bộ cấp xã là người công dân Việt Nam, đã được bầu cử vào nắm giữ chức vụ theo nhiệm kỳ nhất định trong Thường trực HĐND cấp xã, UBND cấp xã, Bí thư Đảng ủy và Phó Bí thư Đảng ủy cấp xã, người đứng đầu các đoàn thể CT-XH cấp xã. Công chức cấp xã là người công dân Việt Nam đã được tuyển dụng vào nắm giữ một chức danh về lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ trực thuộc UBND cấp xã, trong hệ thống biên chế và được hưởng lương từ NSNN.4 Khái niệm viên chức Theo Luật Viên chức xác định: Viên chức là người công dân Việt Nam đã được tuyển dụng theo vị trí việc làm và đang làm việc ở đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ làm việc hợp đồng, được hưởng lương từ quỹ lương của các đơn vị cơ quan sự nghiệp công lập theo luật định.5 Khái niệm người hợp đồng theo Nghị định số 68/2000/NĐ-CP Là những người làm việc theo chế độ hợp đồng theo quy định tại Nghị định 68/2000/NĐ-CP trong các cơ quan của nhà nước thông thường sẽ bao gồm một số công việc như là các công việc thừa hành, lái xe cho các lãnh đạo thực hiện công vụ, bảo vệ trong các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp công lập từ địa phương đến trung ương, công việc vệ sinh, các công việc trông giữ xe của khách đến làm việc với cơ quan, tổ chức và phương tiện của cán bộ, công nhân viên chức đang làm việc, công việc bảo trì, duy tu các thiết bị điện, máy móc, phương tiện đi lại phục vụ cho việc thực hiện vụ, các hệ thống cấp thoát nước ở đơn vị sự nghiệp, phòng cháy chữa cháy và phục vụ khác có yêu cầu trình độ đào tạo từ trung cấp trở xuống và một số công việc khác tùy thuộc vào nhu cầu thực tế của tứng công việc đặc thù của các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về tinh giản biên chế 1. Quan điểm của Đảng về vấn đề tinh giản biên chế 11 Đảng ta đã đề ra các quan điểm về TGBC và tái cơ cấu đội ngũ CB,CC,VC tại Nghị quyết 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015, bao gồm: Thứ nhất, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng ta và quản lý điều hành của Nhà nước, phát huy việc thực hiện vai trò giám sát của hệ thống cơ quan dân cử, MTTQ, các đoàn thể CT-XH và nhân dân.
Đồng thời, Bộ Chính trị quy định về việc quản lý thống nhất đối với biên chế trong HTCT các cấp. Thứ hai, cả HTCT thống nhất từ nhận thức đến hành động, quyết tâm thực hiện TGBC, song không làm ảnh hưởng tới những hoạt động của các tổ chức, cơ quan, đơn vị, nhằm đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thứ ba, tiến hành đồng bộ với cải cách chế độ công vụ và công chức, CCHCNN; nâng cao chất lượng việc cung cấp dịch vụ công và đẩy mạnh cơ chế xã hội hóa các hoạt động khu vực sự nghiệp công lập. Xác định danh mục vị trí việc làm để làm cơ sở, cơ cấu CC, VC một cách hợp lý nhằm xác định biên chế cho phù hợp.
Một việc chỉ giao về một cơ quan chủ trì đầu mối và chịu trách nhiệm chính, còn những cơ quan liên quan phải có trách nhiệm phối hợp trong thực hiện. Thứ tư, TGBC đi đôi với đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đổi mới làm tinh gọn về tổ chức bộ máy của HTCT các cấp và gắn với cải cách tiền lương. Tỷ lệ TGBC được xác định theo từng tổ chức, cơ quan, đơn vị nhằm phù hợp với tình hình thực tế chất lượng và số lượng của đội ngũ CB, CC, VC của đơn vị, cơ quan. Thứ năm, tái cơ cấu đội ngũ CB, CC, VC một cách hợp lý về trình độ chuyên môn, về ngạch, chức danh nghề nghiệp và về thành phần dân tộc, giới tính và độ tuổi.
Chính sách của Nhà nước về tinh giản biên chế Thực hiện quan điểm chủ trương của Đảng, Chính phủ đã cụ thể hóa bằng việc ban hành Nghị định 108/2014/NĐ-CP ngày 20 tháng 11 năm 2014 về chính sách TGBC; Nghị định 113/2018/NĐ-CP ngày 31 tháng 8 năm 2018 12 về việc bổ sung, sửa đổi một số Điều của Nghị định 108/2014/NĐ-CP về chính sách TGBC; và Nghị định 143/2020/NĐ-CP ngày 10 tháng 12 năm 2020 về bổ sung, sửa đổi đối với Nghị định 113/2018/NĐ-CP và Nghị định 108/2014/NĐ-CP. Các văn bản quản lý này đã quy định khá rõ về đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh và nguyên tắc TGBC. Nhất là quy định cụ thể về chính sách TGBC gồm có: chính sách chuyển sang làm việc ở những cơ quan không hưởng lương thường xuyên từ NSNN, chính sách về nghỉ hưu trước tuổi; chính sách về thôi việc (chính sách về thôi việc ngay sau khi đã được đi học nghề, chính sách về thôi việc ngay); chính sách áp dụng đối với người thôi giữ chức lãnh đạo hoặc được bầu cử, bổ nhiệm vào các chức vụ khác có mức phụ cấp chức vụ lãnh đạo mới thấp hơn do tái sắp xếp bố trí. Chính sách về nghỉ hưu trước tuổi - Những người thuộc đối tượng TGBC được quy định ở Điều 6 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP, nếu đối với nam (đủ từ 50 tuổi tới đủ 53 tuổi) và đối với nữ (đủ từ 45 tuổi tới đủ 48 tuổi), có thời gian đủ 20 năm trở lên tham gia đóng BHXH, mà trong đó có đủ 15 năm làm nghề hay công việc nguy hiểm, độc hại, nặng nhọc thuộc danh mục do Bộ LĐ-TB&XH và Bộ Y tế quy định hoặc có đủ 15 năm làm việc tại nơi có phụ cấp khu vực có hệ số từ 0,7 trở lên, thì cùng với việc được hưởng chế độ hưu trí theo luật BHXH, các đối tượng này còn được hưởng chế độ sau đây: + Việc nghỉ hưu trước tuổi sẽ không phải bị trừ tỷ lệ lương hưu; + Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi sẽ được hưởng trợ cấp ba tháng tiền lương so với quy định đối với tuổi tối thiểu (ở Điểm b của Khoản 1 thuộc Điều 50 Luật BHXH); + 20 năm đầu công tác (có tham gia đóng đủ BHXH) sẽ được trợ cấp 05 tháng tiền lương.
Đồng thời, từ năm thứ 21 trở đi sẽ được hưởng trợ cấp nửa tháng tiền lương/ 1 năm công tác có tham gia đóng đủ BHXH. 13 - Đối với người thuộc đối tượng TGBC (theo quy định ở Điều 6 của Nghị định 108/2014/NĐ-CP), nếu đối với nam (đủ từ 55 tuổi tới đủ 58 tuổi) và đối với nữ (đủ từ 50 tuổi tới đủ 53 tuổi), có thời gian 20 năm trở lên đóng đủ BHXH thì sẽ được thụ hưởng chế độ hưu trí theo luật BHXH và chế độ theo quy định: Việc nghỉ hưu trước tuổi sẽ không phải bị trừ tỷ lệ lương hưu; và 20 năm đầu công tác có đóng đủ BHXH sẽ được nhận trợ cấp năm tháng tiền lương.