Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGÀNH NGHỀ NÔNG THÔN 1. Ngành nghề nông thôn và chính sách phát triển ngành nghề nông thôn 1. Ngành nghề nông thôn 1. Khái niệm Thuật ngữ NNNT trước đây thường được hiểu là những ngành tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn.
Hiện nay, NNNT được hiểu ở phạm vi rộng hơn, tại Quyết định số 132/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ Tướng chính phủ về “Một số chính sách khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn” và Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 7/7/2006 của Chính phủ về “Phát triển ngành nghề nông thôn”, NNNT bao gồm các ngành tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Cụ thể: chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản; sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, cơ khí nhỏ ở nông thôn; xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn; sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ; ngành gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh; xây dựng, vận tải trong nội bộ liên xã và các dịch vụ khác phục vụ đời sống dân cư nông thôn. Bên cạnh đó, qua quá trình nghiên cứu, khảo sát NNNT theo quy mô toàn quốc, các nhà khoa học và chuyên gia của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng đã đưa ra khái niệm về NNNT. Khái niệm này được tác giả Nguyễn Mạnh Dũng trình bày trong cuốn sách “Phát triển ngành nghề ở nông thôn”: “NNNT là những hoạt động kinh tế phi nông nghiệp bao gồm tiểu thủ công nghiệp, các hoạt động dịch vụ sản xuất và đời sống, có quy mô vừa và nhỏ với các thành phần kinh tế như hộ gia đình, hộ sản xuất (gọi chung là hộ), các tổ chức kinh tế HTX, doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH.
Các tổ chức hộ và cơ sở này với mức độ khác nhau 9 đều gắn kết mật thiết với nông thôn và có sử dụng các nguồn lực của nông thôn (như: đất đai, lao động, nguyên liệu và các nguồn lực khác) và có ảnh hưởng lớn tới quá trình phát triển kinh tế xã hội của nông thôn” [18, tr. Qua khái niệm về NNNT, có thể rút ra một số đặc điểm cơ bản của NNNT như sau: Thứ nhất, NNNT liên quan đến nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống, trong đó nghề truyền thống được hiểu là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền. Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng,. tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn.
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời. Thứ hai, NNNT là các hoạt động sản xuất, kinh doanh diễn ra chủ yếu trên địa bàn nông thôn với trình độ sản xuất theo hướng công nghiệp hiện đại nhưng tính chất chuyên môn hóa thấp do sử dụng công cụ bán cơ khí, số ít sử dụng công cụ cơ khí với quy mô nhỏ; sử dụng lao động tại chỗ, lao động phổ thông; nguồn nguyên liệu đầu vào từ sản xuất nông nghiệp là chủ yếu hoặc tại địa bàn nông thôn. Thứ ba, quy mô sản xuất NNNT nhỏ, sử dụng số lao động và mức vốn thấp, tương đương tiêu chí của các doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của Nhà nước. Thứ tư, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các NNNT rất đa dạng, mềm dẻo và linh hoạt theo nhu cầu của người tiêu dùng và sự vận động của thị trường.
Mặt khác, để phù hợp với chủ trương CNH, HĐH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế thị trường của nước ta, khái niệm NNNT ngày càng được làm rõ và thể hiện sự tham gia của cả hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ, thương mại. Theo tác giả, NNNT được hiểu là: NNNT là những hoạt động sản xuất công nghiệp, thương mại dịch vụ với quy mô nhỏ trên địa bàn 10 nông thôn; trong quá trình sản xuất kinh doanh, chủ yếu sử dụng lao động thủ công, công cụ bán cơ khí và kết hợp một phần công cụ cơ khí và máy móc hiện đại để sản xuất đa dạng các loại sản phẩm từ nguồn nguyên liệu trên địa bàn nông thôn phục vụ nhu cầu khác nhau của xã hội và cung cấp dịch vụ phục vụ đời sống dân cư nông thôn. Tác giả sử dụng khái niệm này làm cơ sở lý luận nghiên cứu của luận văn. Phân loại Trong nghiên cứu hoạt động NNNT có nhiều cách tiếp cận với các tiêu chí phân loại khác nhau.
Để phù hợp với mục đích nghiên cứu, tác giả lựa chọn tiêu chí phân loại NNNT là: (i) Cùng thực hiện một phương pháp công nghệ hoặc công nghệ tương tự; (ii) Cùng một loại nguyên liệu hay nguyên liệu đồng loại; (iii) Sản phẩm có cùng công dụng hoặc tương tự giống nhau. Căn cứ tiêu chí trên và theo Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển NNNT thì các hoạt động NNNT bao gồm: 1. Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản. Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.
Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Sản xuất đồ gỗ, mây tre đan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ. Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh. Sản xuất muối.
Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn. Với sự phân loại trên càng làm rõ thêm bức tranh toàn cảnh về lĩnh vực NNNT, xác định rõ cách tiếp cận nghiên cứu NNNT. Bên cạnh đó, làm rõ môi trường hoạt động của NNNT chính là khu vực nông thôn, gắn bó chặt chẽ với các làng nghề tại các thôn, làng, xã. Làng nghề ở nông thôn Việt Nam có bề dày lịch sử lâu đời, nhưng nhìn chung có quy mô sản xuất nhỏ, thường mang tính chất gia đình; lao động thủ công là chủ yếu và lực lượng lao động trong làng nghề không được đào tạo chính quy, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm, cha truyền con nối.
Chính sách phát triển ngành nghề nông thôn 1. Khái niệm - Chính sách công: Khoa học chính sách phát triển từ giữa thế kỷ XIX, được thúc đẩy bởi những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội đòi hỏi phải có cách ứng xử, giải quyết phù hợp nhằm đảm bảo xã hội ổn định và phát triển, nhất là cách ứng xử, hành động từ phía nhà nước. Từ đó đến nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về chính sách công. Theo Từ điển Tiếng Anh (Oxford English Dictionary): “Chính sách là một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách” [31, tr.
Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định để giải quyết một vấn đề cụ thể, mà nó còn là một đường lối, phương hướng hành động. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” [28, tr.
Khái niệm này nghiêng về cách tiếp cận chính trị trong chính sách; chính sách là sự cụ thể hóa đường lối chính trị của Đảng cầm quyền; là phương thức đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống. Theo tác giả Đỗ Phú Hải: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định” [24, tr. Theo các tác giả Nguyễn Hữu Hải, Lê Văn Hòa: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó được định hướng mục tiêu và cách giải quyết những vẫn đề công trong xã hộị” [26, tr. Các tác giả trên cũng cho rằng: “Chính sách công là một tập hợp các 12 quyết định có liên quan đến nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [26, tr.
Với các định nghĩa trên đều đề cập tới chính sách công; chỉ ra sự khác biệt căn bản giữa chính sách công và chính sách tư về chủ thể, mục đích tác động và vấn đề mà chính sách hướng tới giải quyết. Chính sách công gắn bó với vai trò, chức năng của “khu vực công”. Mặc dù có sự khác nhau về cách thức hoạch định và thực thi chính sách giữa các quốc gia, nhưng chính sách công đều là sản phẩm của Nhà nước, do Nhà nước ban hành và tổ chức thực thi. Đó là định hướng hành động do Nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm đảm bảo cho xã hội phát triển theo định hướng nhất định.
Chính sách công vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý nhà nước, vừa là công cụ thực hiện chức năng quản lý xã hội; mang tính thống nhất và khá ổn định; có những đặc điểm: tính hệ thống, tính hành động thực tiễn, tính cộng đồng, tính kế thừa lịch sử, tính quốc gia (tất nhiên có tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc tế). Để có cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu của đề tài, tác giả lựa chọn cách định nghĩa Chính sách công trong cuốn “Chính trị trong chính sách công” do tác giả Triệu Văn Cường chủ biên: “Chính sách công là định hướng hành động do nhà nước lựa chọn để giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng phù hợp với thái độ chính trị trong mỗi thời kỳ nhằm giữ cho xã hội phát triển theo định hướng. Chính sách công là một chuỗi các quyết định của nhà nước được thực thi trên thực tế nhằm giải quyết một vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định” [15, tr. - Chính sách phát triển ngành nghề nông thôn: NNNT giữ vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển nông thôn.
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của khu vực nông nghiệp, nông thôn và đề ra nhiều đường lối, chủ trương, chính sách định 13 hướng sự phát triển NNNT trong quá trình đẩy mạnh CNH, HĐH, phát triển kinh tế thị trường XHCN và hội nhập quốc tế.