Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ BỀN VỮNG Ở VIỆT NAM 1. Chính sách công và thực hiện chính sách công - Chính sách công thể hiện mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, do đó khái niệm về chính sách công phụ thuộc nhiều vào bản chất của nhà nước. Cho đến nay, một số nhà khoa học trong và ngoài nước đưa ra các quan niệm và định nghĩa về chính sách công như sau: + Theo James Anderson: “Chính sách công là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Dye thì cho rằng “Chính sách công là cái mà Chính phủ lựa chọn làm hay không làm”.
Đây là định nghĩa ngắn gọn, được nhiều học giả tán thành, nó phản ánh được nội hàm cơ bản của chính sách công. Lê Chi Mai cho rằng “Chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau”. Đỗ Phú Hải nêu ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan để “lựa chọn” mục tiêu và những giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề chính sách theo mục tiêu tổng thể đã xác định của đảng chính trị cầm quyền”. 8 Khái niệm chính sách công được sử dụng chính thức hiện nay được xác định tại Nghị định của Chính phủ số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật, là “định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định” (Điều 3).
Từ những khái niệm trên ta thấy rằng bản chất của chính sách là công cụ để Nhà nước tác động, điều chỉnh các hoạt động và hành vi của các tổ chức, cá nhân trong xã hội hướng tới các mục tiêu phát triển. - Thực hiện chính sách công là một khâu hợp thành chu trình chính sách công, là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng. Tổ chức thực hiện chính sách là để thực hiện các mục tiêu chính sách và mục tiêu chung. Mục tiêu của chính sách có liên quan đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực nên không thể cùng một lúc giải quyết hết tất cả mà phải lần lượt và việc thực hiện chính sách công giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ biện chứng với mục tiêu chung, từ đó có thể giải quyết các vấn đề đặt ra.
Thực hiện chính sách công có nghĩa là chính sách công được thực thi triển khai rộng rãi trong đời sống xã hội và đem lại kết quả mong muốn. Kết quả này càng nhiều thì chính sách và thực hiện chính sách càng có hiệu quả và ngược lại. Đô thị và phát triển đô thị bền vững - Đô thị là một hình thức quần cư đặc biệt của xã hội loài người. Đô thị được hình thành là điểm tập trung dân cư, tài sản và có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội của một vùng nhất định [26].
Từ hoàn cảnh, cuộc sống thực tế, phong tục tập quán, nhận thức về xã hội khác nhau ở mỗi quốc gia trên thế giới mà định nghĩa, quan niệm về đô thị ở các nước cũng có những điểm khác biệt. 9 Các quốc gia Châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất thuộc đô thị, dùng ảnh chụp từ vệ tinh thay vì dùng thống kê từng khu phố để quyết định ranh giới của đô thị. Tại Pháp, một đô thị là một khu vực bao gồm một vùng phát triển do xây cất. Ngoài tiêu chí sử dụng đất thì đô thị còn có điều kiện là mật độ dân số nhất định nào đó và đa phần dân số không hành nghề nông nghiệp hay đánh cá.
Tại Ba Lan thì định nghĩa chính thức về “đô thị” khá đơn giản, nó được hiểu là các địa phương có danh xưng là thị trấn, thành phố; vùng “nông thôn” là những vùng nằm ngoài ranh giới của các thị trấn này.[30] Ở Châu Mỹ mà cụ thể là nước Mỹ thì lại có khái niệm về khu đô thị, cụ thể là có hai loại khu đô thị: một loại để chỉ các khu có trên 50.000 dân trở lên là urbanized area và một loại có dân số dưới 50.000 gọi là urban cluster. Cục Điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa một khu đô thị như “những cụm thống kê cốt lõi có mật độ dân số ít nhất là 1.000 người trên một dặm vuông Anh và những cụm thống kê xung quanh nó có tổng mật độ dân số ít nhất là 500 người trên một dặm vuông”. Tại Nhật Bản, đô thị được định nghĩa là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đông đúc, trong đó mật độ dân số phải trên 4.000 người trên một cây số vuông.[30] Tại Việt Nam hiện nay, khái niệm đô thị đã được luật hóa trong Luật Quy hoạch đô thị năm 2015. Theo đó, đô thị được định nghĩa: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn”.
Ngày nay, đô thị không chỉ đơn thuần là nơi tập trung dân cư đông đúc với các hoạt động mang tính chất phi nông nghiệp; các trung tâm đơn chức 10 năng về hành chính hoặc thương mại,.mà đô thị đã trở thành một không gian cư trú của dân cư, là kết quả tất yếu của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đóng vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc về một số mặt: hành chính, kinh tế - xã hội. của một vùng hoặc quốc gia, biểu hiện của nó là sự tập trung dân cư với mật độ cao với lối sống đô thị và các hoạt động phi nông nghiệp chiếm ưu thế, có cơ sở hạ tầng phát triển ngày càng hiện đại. - Phát triển bền vững: Lần đầu tiên, năm 1987, trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” Hội đồng thế giới về môi trường và phát triển (WCED) do cựu thủ tướng Na Uy, Gro Harlem Brundtland làm chủ tịch đã đưa ra ý tưởng và khái niệm về phát triển bền vững. Đó là“Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng các nhu cầu của mình, mà không làm tổn hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ” [38].
Tiếp theo sau đó, nhiều định nghĩa khác nhau lần lượt ra đời như: + Chương trình môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) có đưa ra định nghĩa:“Phát triển bền vững là quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân loại trong phạm vi đáp ứng được của các hệ sinh thái” [38]. + Ngân hàng thế giới –WB cho rằng:“Phát triển bền vững chính là sự duy trì và nâng cao chất lượng cuộc sống của con người về mặt xã hội, kinh tế, môi trường trong giới hạn khả năng chịu tải của các hệ sinh thái dịch vụ và cơ sở tài nguyên của môi trường, nghĩa là vẫn đảm bảo tính bền vững của môi trường” [38].Barton, International Institute for environmental and development – IIED:“Phát triển bền vững là một quá trình dàn xếp, thỏa hiệp giữa các hệ thống kinh tế, tự nhiên và xã hội”, tức là phát triển bền vững phải đảm bảo 3 mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường hài hòa với nhau” [38]. + Và theo Luật Bảo vệ môi trường 2014 của nước ta:“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại 11 đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường”. Từ những khái niệm trên có thể thấy rằng, về bản chất, phát triển bền vững là một quá trình biến đổi mạnh mẽ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội nhằm tạo ra sự tối ưu nhất trong tăng trưởng để đáp ứng nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống của con người mà không làm tổn hại đến hệ các sinh thái và môi trường trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Tổng quát hơn, phát triển bền vững chính là một quá trình liên tục cân bằng và hòa nhập các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Nó đảm bảo sự trường tồn của nhân loại. Chính vì vậy, phát triển bền vững đã trở thành mục tiêu chiến lược cho toàn cầu, cho từng quốc gia, cho từng khu vực, vùng đô thị, cũng như cho từng đô thị. - Phát triển đô thị bền vững: khái niệm về phát triển đô thị bền vững phải xuất phát từ quan điểm tổng hòa phát triển các lĩnh vực trụ cột của đô thị (kinh tế, xã hội, môi trường), cân bằng các hệ sinh thái và bảo đảm cho mọi tổ chức liên kết hữu cơ về không gian các chức năng hoạt động của đô thị, hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội; có mối quan hệ chặt chẽ giữa đô thị - nông thôn, nhất là với khu vực ven đô.
Trên cơ sở nguyên lý phát triển bền vững, các nhà nghiên cứu và quản lý về phát triển đô thị đều cho rằng khái niệm phát triển đô thị bền vững có thể được hiểu là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết giữa các nhân tố cấu thành đô thị như một chỉnh thể, là: kinh tế đô thị, văn hóa - xã hội đô thị, môi trường - sinh thái đô thị, cơ sở hạ tầng đô thị và quản lý đô thị. Hiện nay dưới tác động của biến đổi khí hậu và cách mạng công nghiệp thế hệ mới 4.0, các nhà nghiên cứu và quản lý về phát triển đô thị còn đưa ra khái niệm phát triển đô thị/thành phố xanh (green city) và đô thị/thành phố 12 thông minh (smart city).