Tổng quan nghiên cứu

Quá trình đô thị hóa tại Việt Nam diễn ra mạnh mẽ khi tỷ lệ đô thị hóa tăng từ 19,6% với 629 đô thị năm 1999 lên 37,5% với 813 đô thị năm 2017. Nằm ở cửa ngõ phía Tây thành phố Hồ Chí Minh, quận Bình Tân giữ vai trò huyết mạch kết nối nội thành với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng tạo nên áp lực dân số cơ học khổng lồ, tăng từ 633.543 người năm 2013 lên 729.367 người năm 2017, đưa mật độ dân số chạm ngưỡng 14.021 người/km2. Thực trạng này kéo theo các bất cập nghiêm trọng về quá tải hạ tầng kỹ thuật, thiếu hụt tiện ích xã hội, ngập nước và ô nhiễm môi trường.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công của tác giả Huỳnh Thanh Hùng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Danh Sơn tại Học viện Khoa học Xã hội, tập trung giải quyết vấn đề tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại quận Bình Tân. Mục tiêu nghiên cứu bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về chu trình chính sách công trong phát triển đô thị, phân tích thực trạng triển khai các chương trình đột phá giai đoạn 2011 - 2017, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý đô thị đến năm 2025.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi xác lập hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả quản trị, giúp chính quyền đô thị cấp quận giải quyết hài hòa ba trụ cột: tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công của James Anderson và Thomas R. Dye, kết hợp các quan điểm quản lý hành chính của Đỗ Phú Hải và Lê Chi Mai. Chu trình thực hiện chính sách được nhìn nhận là quá trình tương tác phức hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư nhằm chuyển hóa các quyết định quản lý thành kết quả thực tế theo tinh thần Nghị định số 34/2016/NĐ-CP của Chính phủ.

Về lý thuyết phát triển bền vững, luận văn kế thừa định nghĩa từ Báo cáo Brundtland năm 1987 của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED), các nguyên tắc tích hợp của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) và Ngân hàng Thế giới (World Bank). Mô hình nghiên cứu chuẩn hóa 5 khái niệm cốt lõi:

  1. Chính sách công: Tập hợp các định hướng, công cụ và giải pháp của Nhà nước nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn.
  2. Thực hiện chính sách: Giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách thông qua bộ máy hành chính và sự tham gia của xã hội.
  3. Đô thị: Không gian cư trú tập trung mật độ cao với hoạt động kinh tế phi nông nghiệp chiếm ưu thế theo Luật Quy hoạch đô thị.
  4. Phát triển đô thị bền vững: Sự phát triển cân bằng và hài hòa giữa kinh tế, văn hóa - xã hội, môi trường sinh thái và năng lực quản trị.
  5. Tiêu chí đô thị bền vững: Bộ chuẩn đánh giá gồm 10 chỉ tiêu cốt lõi theo khung chuẩn châu Âu và các tiêu chí khu đô thị mới kiểu mẫu theo Thông tư số 15/2008/TT-BXD của Bộ Xây dựng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ các văn kiện, nghị quyết của Quận ủy Bình Tân, báo cáo thống kê của Phòng Quản lý đô thị, Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng hệ thống số liệu thống kê đất đai trên toàn bộ diện tích 5.202,09 ha của quận. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát 10 phường trực thuộc, thẩm định 56.681 hồ sơ cấp phép xây dựng, 50.415 hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và 1.330 biên bản thanh kiểm tra môi trường trong mốc thời gian 2011 - 2017.

Phương pháp chọn mẫu định mức kết hợp chọn mẫu mục đích được áp dụng để khảo sát các khu vực đô thị hóa trọng điểm như khu công nghiệp Tân Tạo, khu công nghiệp Vĩnh Lộc và công ty Pouyuen. Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích chính sách công, thống kê so sánh và kỹ thuật phân tích ma trận SWOT (Điểm mạnh, Điểm yếu, Cơ hội, Thách thức). Việc kết hợp các phương pháp này giúp lượng hóa chính xác sự chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất, đánh giá khách quan năng lực bộ máy thực thi và chỉ rõ các rào cản thể chế ở cấp chính quyền cơ sở.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế quận Bình Tân chuyển dịch tích cực nhưng phân bổ sản xuất còn tiềm ẩn rủi ro sinh thái. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,9%/năm. Quận sở hữu 3 khu công nghiệp tập trung, 4 cụm công nghiệp cùng 43.679 cơ sở sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tỷ trọng sản xuất sản phẩm da và may mặc chiếm tới 52,50%, tập trung mật độ lao động rất cao và phát sinh lượng chất thải lớn.

Thứ hai, áp lực dân số cơ học vượt xa năng lực cung ứng hạ tầng xã hội. Dân số toàn quận đạt 729.367 người vào năm 2017, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi chiếm 72,20% tương đương 526.598 người. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm còn 1,08%, phản ánh mức tăng chủ yếu là di dân cơ học. Mật độ dân cư phân bổ không đều, cao nhất tại phường Bình Hưng Hòa A với 119.473 người, chiếm 16,38% dân số toàn quận.

Thứ ba, công tác chỉnh trang đô thị đạt nhiều kết quả thông qua xã hội hóa nhưng hạ tầng kỹ thuật vẫn chắp vá. Trong giai đoạn 2011 - 2017, quận đã cấp 56.681 giấy phép xây dựng, nâng cấp 48 tuyến đường và 1.735 tuyến hẻm với tổng chiều dài 182,38 km. Dù vậy, đất dành cho phát triển hạ tầng chỉ chiếm 20,07% tổng quỹ đất tự nhiên, chưa giải quyết dứt điểm tình trạng ngập nước khi triều cường và mưa lớn.

Thứ tư, công tác cưỡng chế môi trường và cải cách hành chính có chuyển biến nhưng chưa đồng bộ. Quận đã thanh kiểm tra 1.330 đơn vị sản xuất, xử phạt vi phạm hành chính 7,181 tỷ đồng và buộc di dời 151 cơ sở gây ô nhiễm nặng. Về nhân lực, 98,5% cán bộ chủ chốt đạt chuẩn lý luận chính trị và 94% công chức đạt chuẩn chuyên môn, tạo nền tảng vững chắc cho quản trị công.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa tốc độ quy hoạch xây dựng với tốc độ nhập cư của người lao động. Khi quỹ đất nông nghiệp thu hẹp còn 18,22% (947,82 ha), việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang đất ở đô thị diễn ra ồ ạt khiến hạ tầng kỹ thuật không theo kịp. So sánh với các nghiên cứu đô thị hóa vùng Nam Bộ, quận Bình Tân chịu áp lực lớn hơn nhiều do đặc thù khu công nghiệp tập trung.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh sự mất cân đối rõ rệt khi trình bày qua biểu đồ phân bố quỹ đất 5.202,09 ha: đất hạ tầng chiếm 20,07%, đất công nghiệp chiếm 7,41%, trong khi đất cây xanh và khu vui chơi công cộng chỉ chiếm 0,46% (24,04 ha). Bảng ma trận so sánh quy mô dân số và chiều dài mạng lưới thoát nước cho thấy mức độ đầu tư công chưa tương xứng với chỉ tiêu phát triển đô thị loại đặc biệt của thành phố Hồ Chí Minh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, rà soát và điều chỉnh quy hoạch phân khu xây dựng tỷ lệ 1/2000. UBND quận Bình Tân phối hợp cùng Sở Quy hoạch - Kiến trúc thành phố hoàn thiện điều chỉnh quy hoạch toàn bộ 5.202,09 ha đất tự nhiên trong giai đoạn 2021 - 2023, nâng tỷ lệ đất giao thông và công trình công cộng đạt từ 20% đến 26% vào năm 2025.

Thứ hai, đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư hạ tầng kỹ thuật và chống ngập. Phòng Quản lý đô thị chủ trì triển khai mô hình đối tác công tư (PPP), ưu tiên vốn ngân sách và vốn xã hội hóa để nâng cấp dứt điểm 10 tuyến đường chính và 23 tuyến hẻm thường xuyên ùn tắc. Mục tiêu giai đoạn 2021 - 2025 bảo đảm trên 90% dân số đô thị được sử dụng nước sạch đạt chuẩn và xóa bỏ hoàn toàn các điểm ngập nặng.

Thứ ba, siết chặt quản lý môi trường và kiên quyết di dời cơ sở ô nhiễm. Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp Công an quận xây dựng kế hoạch thường niên thanh tra 100% các cơ sở thuộc nhóm ngành may mặc, thuộc da, chế biến kim loại; phấn đấu đến năm 2024 hoàn thành việc di dời 100% cơ sở sản xuất không đạt quy chuẩn sinh thái ra khỏi khu dân cư xen cài.

Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trật tự đô thị. Văn phòng HĐND và UBND quận triển khai chính quyền điện tử, cung cấp 100% dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 trong cấp phép xây dựng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2025, đồng thời duy trì 100% cán bộ công chức đạt chuẩn vị trí việc làm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên quản lý nhà nước tại các cơ quan quản lý đô thị, Sở Xây dựng, Sở Quy hoạch - Kiến trúc có thể vận dụng quy trình 7 bước tổ chức thực thi chính sách và mô hình phân công phối hợp liên ngành trên địa bàn 10 phường với hơn 720.000 dân.

Các chuyên gia quy hoạch đô thị và kiến trúc sư tìm thấy trong công trình nguồn dữ liệu hiện trạng chuẩn xác về cơ cấu sử dụng 5.202,09 ha đất, thực tiễn mở rộng 182,38 km đường hẻm và các thông số kỹ thuật phục vụ lập đề án quy hoạch phân khu.

Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chính sách công, Quản lý đô thị, Quản lý công, Xã hội học sử dụng luận văn làm tài liệu học thuật thực chứng, tiếp cận phương pháp tích hợp SWOT và khung lý thuyết chính sách của James Anderson vào tình huống địa phương cụ thể giai đoạn 2011 - 2017.

Các doanh nghiệp phát triển hạ tầng, nhà đầu tư bất động sản nắm bắt định hướng phân vùng chức năng, chỉ tiêu nhà ở bình quân hướng tới 20m2/người và thông tin triển khai các dự án quy mô lớn như Trung tâm dân cư Tân Tạo hay di dời nghĩa trang Bình Hưng Hòa.

Câu hỏi thường gặp

Quận Bình Tân có những động lực kinh tế trọng điểm nào thúc đẩy đô thị hóa? Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 14,9%/năm cùng 3 khu công nghiệp lớn gồm Tân Tạo, Vĩnh Lộc, Tân Bình mở rộng và 4 cụm công nghiệp là động lực hạt nhân. Địa bàn tập trung 43.679 đơn vị kinh doanh, trong đó ngành may mặc, chế biến da chiếm tới 52,50%, thu hút nguồn lực lao động khổng lồ từ khắp các tỉnh thành.

Thách thức lớn nhất trong quản lý phát triển đô thị tại Bình Tân giai đoạn 2011 - 2017 là gì? Thách thức lớn nhất là áp lực tăng dân số cơ học nhanh từ 633.543 người lên 729.367 người, đẩy mật độ lên 14.021 người/km2. Quỹ đất nông nghiệp thu hẹp còn 18,22% trong khi đất hạ tầng chỉ chiếm 20,07%, dẫn đến tình trạng quá tải trường học, bệnh viện, kẹt xe và ngập nước cục bộ.

Phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đã đem lại kết quả cụ thể nào? Thông qua việc vận động nhân dân hiến đất và góp kinh phí, quận đã chỉnh trang, nâng cấp thành công 48 tuyến đường chính và 1.735 tuyến hẻm với tổng chiều dài 182,38 km. Giải pháp này giúp xóa bỏ nút thắt cổ chai tại 10 tuyến đường và 23 tuyến hẻm, cải thiện rõ rệt mỹ quan đô thị.

Chính quyền quận đã thực hiện các biện pháp chế tài môi trường như thế nào? Cơ quan chức năng đã kiểm tra 1.330 đơn vị sản xuất, ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính tổng số tiền 7,181 tỷ đồng. Đồng thời, quận đã kiên quyết buộc dừng hoạt động và di dời 151 cơ sở ô nhiễm nặng xen cài trong khu dân cư nhằm bảo vệ sức khỏe người dân.

Công trình đóng góp gì mới về mặt phương pháp luận chính sách công? Luận văn đã cụ thể hóa chu trình 7 bước thực thi chính sách gắn với đặc thù đô thị ven đô, tuyên truyền tới 62.044 lượt cán bộ và người dân, kết hợp bộ tiêu chí phát triển bền vững quốc tế để đo lường định lượng kết quả thực hiện chính sách công ở cấp cơ sở.

Kết luận

  • Hệ thống hóa hoàn chỉnh cơ sở lý luận về chu trình 7 bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển đô thị bền vững tại cấp chính quyền cơ sở.
  • Phân tích thực chứng toàn diện bức tranh đô thị hóa quận Bình Tân với dân số 729.367 người và mật độ 14.021 người/km2 trong giai đoạn 2011 - 2017.
  • Đánh giá khách quan các thành tựu chỉnh trang 182,38 km hạ tầng đường hẻm cùng tốc độ tăng trưởng kinh tế vượt bậc 14,9%/năm.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn về hạ tầng kỹ thuật, ngập nước và tình trạng 1.330 cơ sở sản xuất kinh doanh vi phạm các tiêu chuẩn môi trường.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá, có phân kỳ lộ trình giai đoạn 2020 - 2025 nhằm đạt chỉ tiêu nhà ở 20m2/người và 100% dân số sử dụng nước sạch.

Đóng góp then chốt của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp chính quyền địa phương hoàn thiện cơ chế phối hợp liên ngành và nâng cao hiệu năng quản trị đô thị. Để tiếp tục hoàn thiện khung chính sách giai đoạn 2025 - 2030, các nhà quản lý và nhà nghiên cứu cần đẩy mạnh theo dõi các chỉ tiêu môi trường số hóa và tích hợp mô hình thành phố thông minh. Hãy trích dẫn và ứng dụng các kết quả nghiên cứu của luận văn vào công tác hoạch định và thực thi chính sách phát triển đô thị bền vững ngay hôm nay.