Chương I Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; … - Chính sách bố trí sử dụng (luân chuyển, điều động): bố trí sử dụng là khâu tiếp theo của công tác quản lý nhân sự. Bố trí sử dụng bao gồm các hoạt động định hướng cho những người mới được tuyển dụng, bố trí lại, luân chuyển, đề bạt đối với các vị trí, chức danh trong bộ máy tổ chức, cơ quan, đơn vị. Chính sách bố trí sử dụng nhân lực được xây dựng và thực hiện tốt sẽ khuyến khích động viên được mọi thành viên trong tổ chức nỗ lực làm việc, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, đồng thời cũng tạo điều kiện thu hút được những người tài giỏi làm việc cho tổ chức. Chính sách bố trí sử dụng CBCC được nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản như: Mục 5 Chương IV Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội khóa XII; Chương III Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ Quy định về tuyển dụng và quản lý công chức; Điều 27 Chương IV Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ Về công chức xã, phường, thị trấn; Khoản 3 Điều 14 Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố;… - Chính sách đào tạo, bồi dưỡng: đào tạo, bồi dưỡng là con đường cơ bản để nâng cao kiến thức toàn diện cho CBCC; là chìa khoá để người CBCC tham gia vào các lĩnh vực hoạt động, công tác và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Để công tác đào tạo, bồi dưỡng CBCC đạt được kết quả tốt, cần phải có chính sách đào tạo, bồi dưỡng phù hợp. Đào tạo, bồi dưỡng phải được cụ thể hoá thành các chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện và được vận dụng thích hợp trong từng giai đoạn khác nhau. Kế hoạch tổ chức thực hiện càng cụ thể, chu đáo thì hiệu quả thực hiện chính sách càng cao. Chính sách này được nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản như: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (mục 4 chương IV); Nghị định số 92/2009/NĐ-CP (Mục 1 Chương II); Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ.
- Chính sách đánh giá CBCC: Công tác tổ chức đánh giá đúng thực trạng chất lượng CBCC sẽ góp phần đắc lực cho việc nâng cao chất lượng, làm cơ sở cho việc bố trí sử dụng, đề bạt, khen thưởng, kỷ luật, xác định được nhu cầu, nội dung, chương trình đào tạo, chế độ đãi ngộ phù hợp. Trong công tác đánh giá phải được xem xét trên nhiều góc độ, phương diện khác nhau, cả về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, cả về mức độ hoàn thành nhiệm vụ cũng như ý thức, tinh thần trách nhiệm trong công việc. Việc đánh giá CBCC nếu được thực hiện tốt, đảm bảo khách quan, công bằng sẽ động viên, khuyến khích được đội ngũ CBCC hăng say, nỗ lực công tác, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Chính sách đánh giá CBCC được nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản như: Mục 4 Chương IV Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội khóa XII; Mục 5 Chương III Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ Quy định về tuyển dụng và quản lý công chức; Điều 28 Chương IV Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ Về công chức xã, phường, thị trấn; Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 88/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.
- Chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần: Nhu cầu về tinh thần là những điều kiện để con người tồn tại, phát triển về trí lực. Nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện vật chất để con người tồn tại, phát triển về thể lực. mọi hoạt động của con người suy cho cùng đều nhằm thoả mãn nhu cầu nhất định về vật chất hoặc về tinh thần. Do đó, chính sách đãi ngộ phải thỏa mãn hai nhu cầu cốt lõi này.
Để khuyến khích, động viên, tạo động lực cho đội ngũ CBCC nỗ lực làm việc trước hết phải thường xuyên chăm lo tới quyền lợi chính đáng của CBCC. Do vậy, chính sách đãi ngộ đối với CBCC cần phải được xây dựng phù hợp, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực như: tiền lương, phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, nghỉ ngơi… Đồng thời, cần phải kết hợp hài hoà cả về vật chất và tinh thần nhằm động viên, khuyến khích họ nỗ lực làm việc, đem hết tài năng, sức lực cho hoạt động, công tác, đáp ứng yêu cầu quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước. Chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần được nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản, như: Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; Mục 2 Chương II Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội khóa XII; Mục 1 Chương II Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ Về chức danh, số lượng, một số chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; Điều 22 và Điều 44 Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 của Chính phủ Quy định về tuyển dụng và quản lý công chức; Mục 5 Chương III Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ Về công chức xã, phường, thị trấn; Mục 2 Chương II Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 08/2013/TT-BNV ngày 31/7/2013 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn thực hiện chế độ nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; Quyết định số 05/2014/QĐ-TTg ngày 15/01/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc công khai chế độ, chính sách liên quan đến phương tiện, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ của Đảng, Nhà nước đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị định số 34/2019/NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ về Sửa đổi, bổ sung một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố; Chương II Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ Hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, thôn, tổ dân phố. - Chính sách khen thưởng, kỷ luật: Đây là một trong những chính sách có tính chất hữu hiệu góp phần quan trọng trong việc quản lý, sử dụng, nâng cao hiệu quả làm việc của CBCC.
Khen thưởng bằng vật chất hay bằng tinh thần đối với CBCC lập thành tích xuất sắc đều sẽ góp phần đắc lực trong sự thành công chung của cơ quan, đơn vị. Kỷ luật bằng vật chất hay tinh thần đối với CBCC vi phạm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ sẽ có tác động tích cực góp phần khắc phục tình trạng vi phạm, phấn đấu hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ của mỗi cá nhân nói riêng và của cơ quan, đơn vị nói chung. Khen thưởng nhằm khuyến khích, động viên mọi người nỗ lực trong quá trình thực hiện công việc. Để chính sách khen thưởng được chính xác, hiệu quả và kỷ luật được nghiêm minh, đúng đối tượng thì phải đề ra quy định khen thưởng, kỷ luật cụ thể, phù hợp.
Phải đảm bảo tính kịp thời, khách quan, dân chủ và công bằng trong việc thực hiện chính sách này; để việc khen thưởng, kỷ luật đạt được hiệu quả cao nhất thì phải đề ra mức thưởng, mức phạt phù hợp. Chính sách khen thưởng, kỷ luật được nhà nước quy định cụ thể tại các văn bản như: Chương IX Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008 của Quốc hội khóa XII; Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17/5/2011 của Chính phủ quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức; Chương VI Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ Về công chức xã, phường, thị trấn; Công văn số 5228/BNV- CQĐP ngày 05/12/2014 của Bộ Nội vụ về việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ cấp xã; 1. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã Thực hiện chính sách phát triển CBCC cấp xã là quá trình thực hiện nhằm chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đến đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đề ra. Các chủ thể tham gia thực hiện chính sách phát triển CBCC cấp xã có liên quan từ cấp trung ương đến cơ sở, như: - Ở cấp trung ương gồm có: Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Nội vụ và các bộ, cơ quan ngang bộ.
- Ở cấp tỉnh (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) gồm có: Tỉnh ủy, Ban tổ chức Tỉnh ủy - cơ quan tham mưu trực tiếp; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Sở Nội vụ - cơ quan tham mưu trực tiếp. - Ở cấp huyện (quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh) gồm có: Huyện ủy, Ban tổ chức Huyện ủy - cơ quan tham mưu trực tiếp; Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, phòng Nội vụ - cơ quan tham mưu trực tiếp. - Ở cấp xã gồm: Đảng ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Nội dung các bước tổ chức thực hiện chính sách phát triển cán bộ, công chức cấp xã 1.
Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách là nhiệm vụ đầu tiên để tổ chức thực hiện chính sách phát triển CBCC cấp xã, nhằm đưa chính sách vào cuộc sống. Hiệu quả của việc thực hiện chính sách phát triển CBCC phụ thuộc vào chất lượng, tính khả thi của kế hoạch được xây dựng. Do đó, trong khâu xây dựng kế hoạch đòi hỏi phải được đầu tư kỹ lưỡng về trí tuệ, thời gian và công sức để quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách đạt được hiệu quả cao.