Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết về chất lượng nguồn nhân lực và các biện pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Một số khái niệm liên quan 1. Khái niệm nguồn nhân lực Tại Việt Nam cũng như trên Thế giới, khái niệm nguồn nhân lực có nhiều cách hiểu khác nhau và cách giải thích khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này tôi xin trích dẫn một vài khái niệm nổi bật về “Nguồn nhân lực”: Theo Từ điển Tiếng Việt, “Nguồn” được định nghĩa là nơi phát sinh, nơi cung cấp, còn “Nhân lực” được định nghĩa là sức lực của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụng vào quá trình lao động của mỗi con người (trí lực), và những ham muốn, hoài bão của bản thân người lao động hướng tới một mục đích xác định.
Ngoài ra theo một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước mang mã số KX - 07 do GS.TSKH Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm, khái niệm nguồn nhân lực được định nghĩa là: “số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động”.TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh trong tác phẩm: “Kinh tế Nguồn nhân lực” (2, tr13) thì nguồn nhân lực lại được định nghĩa là: “một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai”. Từ đó tác giả đã chỉ ra sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng, chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội. Còn trên thế giới cũng có nhiều các trình bày thêm rõ ràng về khái niệm nguồn nhân lực. Tiêu biểu nhất chính là khái niệm mà Liên Hợp Quốc đã đưa ra cho các quốc qua trên thế giới tham khảo là: “trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực 8 của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng”.
Trong khi đó tổ chức Ngân hàng Thế giới - World Bank Group khi đề cập đến nguồn nhân lực lại cho là: “toàn bộ vốn con người bao gồm: thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân thành viên sở hữu”. Ngoài ra Tổ chức lao động quốc tế (ILO) với mục tiêu giải thích rõ cho các quốc gia trên thế giới thì đưa ra quan điểm nguồn nhân lực là “toàn bộ số người trong độ tuổi có khả năng lao động, hiểu theo nghĩa rộng, đây là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội; theo nghĩa hẹp, là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự nghiệp phát triển xã hội”. Theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Thị Minh An được trình bày trong tác phẩm: “Quản trị nguồn nhân lực” (1, tr9) thì: khái niệm nhân lực là: “toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất”. Còn nguồn nhân lực của doanh nghiệp được khái quát là: “tất cả những người lao động làm việc trong doanh nghiệp.” Tổng hợp các kết quả nghiên cứu đã được công bố bằng các tác phẩm, tài liệu cả trong và ngoài nước ở trên ta có thể thấy được nguồn nhân lực được nhìn nhận dưới nhiều quan điểm khác nhau.
Các quan điểm này có thể được trình bày dưới dạng vĩ mô là nhà nước là xã hội hoặc có thể ở dưới góc độ của tổ chức, doanh nghiệp. Vậy từ tất cả các khái niệm trên cho thấy: Nguồn nhân lực là nguồn vốn con người (hay là tổng thể số lượng và chất lượng con người) có thể lực, trí lực và tâm lực của một quốc gia, vùng, lãnh thổ, tổ chức đã, đang và sẽ sử dụng hoặc được sử dụng để tạo ra những lợi ích cho xã hội (dưới dạng vật chất và tinh thần). Khái niệm chất lượng nguồn nhân lực Cũng như khái niệm nguồn nhân lực, khái niệm chất lượng nguồn nhân lực đã được rất nhiều tác giả nổi tiếng trong và ngoài nước đưa ra dưới các góc độ phân tích khác nhau. Trong khuôn khổ luận văn này tôi xin trích dẫn một vài khái niệm nổi bật về “Chất lượng nguồn nhân lực”: Trong tác phẩm Nguồn nhân lực, Nxb Đại học Lao động Xã hội (2011) thì khái niệm chất lượng nguồn nhân lực được định nghĩa là: “khái niệm tổng hợp về 9 những người thuộc nguồn nhân lực được”.
Tác phẩm chỉ ra rằng chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt: sức khỏe của người lao động( thể lực), trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kĩ thuật, năng lực thực tế về tri thức, kĩ năng nghề nghiệp, tính năng động xã hội gồm khả năng sáng tạo, sự linh hoạt, nhanh nhẹn trong công việc,…(trí lực), phẩm chất đạo đức, tác phong, thái độ đối với công việc, môi trường làm việc, hiệu quả hoạt động lao động của nguồn nhân lực và thu nhập mức sống và mức độ thỏa mãn nhu cầu cá nhân gồm nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần của người lao động (tâm lực). Từ những luận điểm được các nhà khoa học đưa ra, tôi đã tổng hợp lại và đưa ra một khái niệm chung về chất lượng nguồn nhân lực: đó là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người nói chung và người lao động nói riêng. Chất lượng nguồn nhân lực cao có tác động trực tiếp làm tăng năng suất lao động.
Trong thời đại tiến bộ kỹ thuật hiện nay, các quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam cần và có thể đưa chất lượng nguồn nhân lực vượt trước trình độ phát triển của cơ sở vật chất trong nước để sẵn sàng đón nhân tiến bộ kỹ thuật công nghệ, hòa nhập với nhịp độ phát triển nhân loại. Chất lượng nguồn nhân lực được đánh giá thông qua các tiêu chí về thể lực, trí lực và tâm lực. Những tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực thể hiện qua 3 tiêu chí: Thể lực; Trí lực; Tâm lực. Theo bộ tiêu chí này, nếu thống kê trên toàn thế giới vào năm 2013 tại tạp trí “https://www.com” thì những nước có thứ hạng cao nhất có thứ tự là: Thụy Sĩ, Phần Lan, Singapore; tiếp đến là các nước gồm: Hà Lan, Thụy Điển, Đức, Na Uy, Đan Mạch, Anh, Canada.
Trong khi đó Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, nhưng chỉ được xếp hạng thứ 16 vì chỉ tiêu sức khỏe chỉ xếp hạng thứ 43. Điều đó có thể cho thấy cả 3 tiêu chí đều rất quan trọng. Và dưới đây tác giả sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về 3 tiêu chí cơ bản của chất lượng nguồn nhân lực. Thể lực Thể lực được định nghĩa là sức khỏe của thân thể, thể lực phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như sức vóc tình trạng sức khỏe của từng con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc và nghỉ ngơi, chế độ y tế.
Thể lực con người nói chung và người lao động nói riêng phụ thuộc vào tuổi tác, thời gian công tác, giới tính… Khi đánh giá hoạt động thực tiễn của con người thì có thể nói rằng thể lực là một trong những cơ sở quan trọng vì có thể lực thì sẽ đáp ứng được những đòi hỏi về hao phí sức lao động trong quá trình sản xuất với những công việc cụ thể khác nhau và đảm bảo cho con người có khả năng học tập, lao động lâu dài. Từ đó có thể thấy đầu tư vào sức khỏe sẽ giúp cải thiện lực lượng lao động. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã chỉ ra rằng sức khỏe là trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không phải chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế. Sức khỏe tốt là một nhân tố hết sức quan trọng của chất lượng lao động, làm tăng khả năng làm việc vừa ở khía cạnh thể chất lẫn tinh thần, qua đó góp phần tăng năng suất lao động.
Các chỉ tiêu cơ bản của thể lực bao gồm: chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, các chỉ tiêu về tình hình bệnh tật, các chỉ tiêu về cơ sở vật chất và các điều kiện bảo vệ và chăm sóc sức khỏe. Hiện nay trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng có các Văn bản quy phạm để phân loại sức khỏe người lao động như: Quyết định số 1266/QĐ-BYT ban hành ngày 21/03/2020 của Bộ Y Tế về tiêu chuẩn sức khỏe - phân loại để khám tuyển, khám định kỳ. Tất cả các doanh nghiệp trên lãnh thổ Việt Nam đều phải có bước khám sức khỏe trong công đoạn tuyển dụng cũng như khám sức khỏe định kỳ cho người lao động với các tiêu chí mà Bộ Y Tế đưa ra. Tại bước kiểm tra này, người tiến hành là các chuyên gia về y tế đảm nhận, phòng tổ chức hành chính cần cung cấp các tiêu chuẩn về thể lực cho các vị trí làm việc để các chuyên gia y tế dựa vào đó và đánh giá thể lực ứng viên tuyển dụng cũng như là người lao động khi khám sức khỏe.
Điều đó có thể thấy rằng sức khỏe là một yếu tố quan trọng không thể thiếu khi đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. Về chi tiết, tại Thông tư 14/2013/TT- BYT ban hành ngày 11 06/05/2013, Bộ Y Tế hướng dẫn khám sức khỏe khi làm hồ sơ dự tuyển, khám sức khỏe khi tuyển dụng, khám sức khỏe định kỳ và khám sức khỏe theo yêu cầu đối với các đối tượng là cơ sở sử dụng người lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề … với nội dung khám được qui định như sau: - Khám thể lực: bao gồm các chỉ số chiều cao, cân nặng, chỉ số BMI, mạch, huyết áp - Khám lâm sàng: bao gồm các chỉ số khám nội khoa (tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, thận – tiết niệu, cơ – xương – khớp, thần kinh, tâm thần), ngoại khoa, sản phụ khoa, mắt, tai – mũi - họng, răng - hàm - mặt, da liễu - Khám cận lâm sàng: bao gồm các loại xét nghiệm: máu, nước tiểu và chuẩn đoán hình ảnh 1.