Chương 1. Lý luận chung về chất lượng nguồn nhân lực Cảnh sát nhân dân Chuơng 2. Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc và trường giáo dưỡng, Bộ Công an Chương 3. Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc và trường giáo dưỡng 10 e Chƣơng 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤT LƢỢNG NGUỒN NHÂN LỰC CẢNH SÁT NHÂN DÂN 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm nguồn nhân lực Nguồn lực con người hay NNL là khái niệm được hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển. Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn lực con người hay NNL với các góc độ khác nhau. Theo định nghĩa của Liên Hợp quốc UN : "Nguồn nhân lực là trình độ nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển KT-XH trong một cộng đồng".
Việc quản lý và sử dụng nguồn lực con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qua lại của mọi mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ. Ngân hàng thế giới WB cho rằng: NNL là toàn bộ "vốn người" thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… mà mỗi cá nhân sở hữu. Nguồn lực con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguốn vốn khác như tài chính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… Quan điểm Mác xít về NNL: Coi nguồn lực con người hay còn gọi là NNL, nguồn tài nguyên người hàm nghĩa là nhân tố con người được xem xét, dự tính như là một tiềm năng, một điều kiện cần và có thể phát huy thành động lực cho một quá trình phát triển xã hội, một chiến lược phát triển xã hội trong những thời gian, không gian xác định. Nguồn lực con người thường được xem xét ở các khía cạnh sau: 11 e - Là số lượng và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩm chất.
- Là tổng thể sức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội. - Là sự kết hợp thể lực và trí lực tạo nên năng lực sáng tạo, chất lượng, hiệu quả hoạt động và triển vọng phát triển mới của con người. - Là kinh nghiệm sống, đặc biệt là kinh nghiệm được tích lũy qua sự nếm trải trực tiếp của con người tạo thành thói quen, kỹ năng tổng hợp của mỗi con người, của cộng đồng. Từ đây có thể khái quát, nguồn lực con người là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Khái niệm nguồn lực con người bao quát được những mặt, những khía cạnh, phương diện cơ bản của nguồn lực con người, khắc phục được những hạn chế trong nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa các mặt số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực, khẳng định nguồn lực con người vừa là khách thể, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và quan hệ xã hội. Nói đến nguồn lực con người tức là nói đến con người đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình phát triển KT-XH. đây, cần lưu ý đến một số vấn đề sau: Thứ nhất, con người không tồn tại một cách biệt lập, mà liên kết chặt chẽ với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của chỉnh thể người trong hoạt động. Năng lực sức mạnh này bắt nguồn trước hết từ những phẩm chất vốn có bên trong của mỗi con người và nó được nhân lên gấp bội trong tổng hợp những 12 e con người cụ thế.
Do đó, khi đề cập đến nguồn lực con người về phương diện xã hội, chúng ta không thể không bàn đến số lượng và chất lượng của nó. Thứ hai, nói tới nguồn lực con người phải nói tới phương diện cá thể - chủ thể của nó. Bởi vì, con người đóng vai trò chủ động, là chủ thể sáng tạo và chi phối toàn bộ quá trình phát triển KT-XH, hướng nó tới mục tiêu đã được chọn. Phương diện này được hiểu như là những yếu tố tạo thành cơ sở hoạt động và cơ sở để phát triển một con người với tư cách là một cá nhân.
Đó là sự kết hợp giữa trí lực, thể lực và những phẩm chất khác của nhân cách. Thứ ba, vai trò của nguồn lực con người so với các nguồn lực khác trong quá trình phát triển kinh tế xã hội được thể hiện ở những điểm sau: - Các nguồn lực khác vốn, tài nguyên thiên nhiên,… tự nó tồn tại dưới dạng tiềm năng, chúng chỉ trở thành động lực của sự phát triển khi kết hợp với nguồn lực con người, trở thành khách thể chịu sự cải tạo, khai thác và sử dụng của con người. - Các nguồn lực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, chỉ có nguồn lực con người với cốt lõi là trí tuệ mới là nguồn lực có tiềm năng vô hạn, biểu hiện ở chỗ trí tuệ con người không chỉ tự sản sinh về mặt sinh học mà còn tự đổi mới không ngừng, phát triển về chất lượng trong con người nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Khái niệm nguồn nhân lực Cảnh sát nhân dân NNL Cảnh sát nhân dân hiện nay bao gồm: Sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp; hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn; công nhân, viên chức Cảnh sát phục vụ theo chế độ tuyển dụng; lao động hợp đồng hưởng lương từ ngân sách tại Công an các đơn vị, địa phương; trong đó: - Sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp và công nhân, viên chức Cảnh sát phục vụ theo chế độ tuyển dụng thuộc biên chế được Thủ tướng Chính phủ duyệt hàng năm.
13 e - Hạ sĩ quan, chiến sĩ phục vụ có thời hạn, được tuyển từ số nam công dân trong độ tuổi đăng ký nghĩa vụ quân sự; số lượng tuyển theo nhu cầu sử dụng hàng năm của một số đơn vị ở Bộ và Công an địa phương; thời hạn phục vụ là ba năm. - Công nhân, viên chức Cảnh sát: được tuyển dụng vào làm việc trong Cảnh sát nhân dân mà không thuộc diện được phong cấp bậc hàm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ. - Người lao động hợp đồng: được ký kết hợp đồng và thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật và của Bộ Công an; số lượng sử dụng theo nhu cầu của đơn vị, địa phương. Như đã phân tích trên, NNL trong hình thức chung nhất của nó, đó là một tổng thể của các yếu tố về số lượng, cơ cấu và chất lượng.
Tuy nhiên, những yếu tố này có những nội dung, những tiêu chí biểu hiện khác nhau đối với từng NNL cụ thể. Đối với nguồn nhân lực Cảnh sát nhân dân, yếu tố số lượng, cơ cấu và chất lượng có những nội dung, những tiêu chí cụ thể như sau: Về số lượng NNL Cảnh sát nhân dân được biểu hiện chủ yếu qua các tiêu chí số lượng trong biên chế của ngành. ới quan điểm đó, NNL Cảnh sát nhân dân là hoạt động của cả đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân với hệ thống tổ chức của ngành để tham gia tích cực, sáng tạo vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Đội ngũ CB,CS Cảnh sát nhân dân bên cạnh lực lượng An ninh nhân dân là lực lượng nòng cốt, xung kích trực tiếp bảo vệ an ninh trật tự của đất nước.
Trong quan hệ công tác, mỗi CB,CS không tồn tại biệt lập, tách rời mà liên kết với nhau trong một chỉnh thể, tạo thành một lực lượng nòng cốt, xung kích trực tiếp bảo vệ an ninh, trật tự của đất nước. Hơn thế nữa, là lực lượng vũ trang nên tổ chức Cảnh sát nhân dân phải đảm bảo việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nƣớc giao cho ngành Công an; giúp cho sự liên 14 e kết các bộ phận và các lực lượng nhịp nhàng, thông suốt phát huy sức mạnh toàn lực lượng, bảo đảm số lượng biên chế đủ cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, đáp ứng với yêu cầu và nhiệm vụ được giao. Có như vậy, mới có thể tạo dựng được lực lượng chính quy, tinh gọn, cơ động, mạnh; chức năng nhiệm vụ rõ ràng, rành mạch, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong phòng ngừa và đấu tranh với các loại tội phạm, giữ vững an ninh, trật tự, tránh cồng kềnh, chồng chéo. Đồng thời, có số lượng dự trữ cần thiết để đón đầu sự phát triển khoa học kỹ thuật trong tương lai với một cơ cấu ngành, nghề kỹ thuật mới ra đời; bảo đảm sự phát triển liên tục của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và ngành Công an; yêu cầu, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong mỗi giai đoạn cụ thể để xác định số lượng cán bộ, chiến sĩ một cách hợp lý, bảo đảm sự phát triển nguồn lực này trong thời kỳ mới của đất nước. Về cơ cấu NNL Cảnh sát nhân dân là tổng hòa các thành phần cán bộ, chiến sĩ được phân chia theo một hệ tiêu chí xác định trong hệ thống tổ chức Cảnh sát nhân dân iệt Nam. Cơ cấu cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân là một phân hệ của cơ cấu xã hội luôn gắn liền với các quan hệ xã hội, là biểu hiện trực tiếp của các quan hệ xã hội. Đến lượt nó, cơ cấu cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát nhân dân lại là tổng hòa các phân hệ cơ cấu khác như cơ cấu tự nhiên (lứa tuổi, giới tính…), cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng hoạt động.
Tất cả các phân hệ cơ cấu đó đều giữ một vị trí, vai trò nhất định và có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất.