chương 1 tác giả đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu. Tiếp theo trong chương 2 tác giả sẽ trình bày tổng quát các khái niệm về thuế, tuân thủ thuế, các nghiên cứu trước và bằng chứng thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến tính tuân thủ thuế. Hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến nghiên cứu về tuân thủ thuế, vì thế tác giả tiến hành phân tích, thừa hưởng mô hình và từ đó thiết lập các giả thiết nghiên cứu. Đồng thời xây dựng mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ trong kê khai thuế GTGT tại Chi cục thuế Phú Nhuận.
Tuân thủ và tuân thủ thuế Từ điển Tiếng Việt (2014), Tuân thủ là giữ và làm đúng theo điều đã quy định, theo quy tắc của pháp luật và được tuân thủ một cách nghiêm ngặt. Simon James (2004) cho rằng các định nghĩa về tuân thủ thuế hiện tại quá hạn hẹp để bao gồm các chủ đề đầy đủ và ông cung cấp một định nghĩa rộng hơn. Theo ông, mức độ không tuân thủ thuế có thể được đo bằng chênh lệch thuế, nghĩa là số tiền thuế thực tế phát sinh và số tiền thuế doanh nghiệp khai báo. Jackson and Milliron (1986) và Alm (1991) cho rằng tuân thủ thuế là báo cáo tất cả thu nhập, thanh toán toàn bộ nghĩa vụ thuế bằng cách thực hiện các điều khoản quy định của luật, pháp lệnh, hoặc phán quyết của tòa án.
OECD (2004) định nghĩa tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình. Theo cơ quan thuế Australia (ATO): “Tuân thủ thuế là việc doanh nghiệp đáp ứng các nghĩa vụ thuế theo quy định các luật thuế và các quyết định của tòa án” Nguyễn Thị Lệ Thúy (2011) đã đưa ra định nghĩa về tuân thủ thuế như là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian. c 7 Đồng thuận với Nguyễn Thị Lệ Thúy (2011), tác giả cho rằng tuân thủ thuế là việc người nộp thuế thực hiện đúng, đầy đủ và kịp thời nghĩa vụ thuế đã được quy định trong luật thuế hiện hành một cách tự nguyện. Tuân thủ kê khai thuế Đối với công tác quản lý thuế thì việc tuân thủ gồm các nội dung: đăng ký thuế, kê khai thuế và nộp thuế.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tác giả xét hành vi tuân thủ thuế ở nội dung kê khai thuế. Nội dung kê khai thuế gồm tính thuế và nộp tờ khai thuế. Tuân thủ về kê khai thuế khi tính thuế là nói đến việc kê khai các khoản doanh thu, sản lượng, thu nhập chịu thuế liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng Tuân thủ về nộp tờ khai thuế là nói đến việc kê khai trên các mẫu biểu tờ khai và thời hạn kê khai Như vậy, theo tác giả tuân thủ kê khai thuế là việc NNT tự xác định cơ sở tính thuế, tính thuế, nộp đúng và đủ các mẫu biểu, đúng thời gian theo quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn. Thuế Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nước.
Theo Hoàng Phê (chủ biên) (1996), Từ điển tiếng việt. Nhà xuất bản Đà Nẵng, Việt Nam: “Thuế là khoản tiền hay hiện vật mà người dân hay các tổ chức kinh doanh, tùy theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,.buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định.” Nguyễn Thuấn (2004) định nghĩa “thuế là một khỏan thu của chính phủ đối với các tổ chức và thành viên trong xã hội, khoản thu mang tính chất bắt buộc không hoàn trả trực tiếp và được pháp luật quy định”. c 8 Như vậy từ các định nghĩa trên tác giả có một định nghĩa tổng quát: “Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định nhằm sử dụng cho mục đích công cộng. Thuế giá trị gia tăng Tại Điều 2 Luật thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12: “Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Thuế giá trị gia tăng là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Được gọi là thuế GTGT vì thực chất thuế chỉ đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ. Giá trị gia tăng được xác định bằng chênh lệch giữa tổng giá trị hàng hóa dịch vụ bán ra với tổng giá trị hàng hóa dịch vụ mua vào tương ứng trong kỳ tính thuế. Lý thuyết hành vi của John B.Watson Thuyết hành vi được hình thành bởi nhà tâm lí học người Mỹ John B. Watson năm 1913, cho rằng tâm lí học giải thích hành vi của con người không dựa trên quá trình nhận thức diễn ra trong não hay những hành vi không thấy rõ, mà là những quan sát hành vi được nhận ra.
Theo Watson có 4 loại hành vi: hành vi bên ngoài, hành vi bên trong, hành vi tự động minh nhiên và hành vi tự động mặc nhiên. Theo ông, mọi việc con người làm kể cả suy nghĩ đều thuộc một trong bốn loại hành vi này. Nghiên cứu dùng các phương pháp khoa học khách quan, sử dụng phương pháp ghi chép các sự kiện kiểm soát được về quá trình cơ thể, thích nghi với môi trường. Trong tâm lý học hành vi cổ điển, hành vi của động vật và người bị giản đơn hóa thành những cử động cơ thể.
Nhờ những cử động đó với tính cách là “một cơ quan biết phản ứng” hay “một hệ thống vật lý” thích nghi với môi trường để đảm bảo sự sống còn. Quan sát cũng như giảng giải hành vi đều phải tuân theo công thức S – R (Stimulus – Response) Trong đó S là kích thích, R là phản ứng. c 9 Kích thích có thể là một tình huống tổng quát của môi trường hay một điều kiện bên trong nào đó của sinh vật, phản ứng là bất cứ cái gì mà sinh vật làm và nó bao gồm rất nhiều thứ. Với công thức S - R, Watson đã đặt cho thuyết hành vi mục đích cao cả là điều khiển hành vi động vật và con người.
Lấy nguyên tắc "thử - sai" làm nguyên tắc khởi thuỷ điều khiển hành vi. Hành vi chỉ là mối liên hệ trực tiếp “cơ thể - môi trường”; theo đó, tâm lý, ý thức chẳng qua chỉ là những hiện tượng thừa. Tâm lý học với tư cách là khoa học về hành vi có trách nhiệm vứt bỏ toàn bộ các thuật ngữ của tâm lý học cấu trúc và tâm lý học chức năng như ý thức, trạng thái và quá trình ý thức, lý trí và hình ảnh… 2. Nghiên cứu của Jackson, B.
(1986) Các tác giả mô tả trạng thái hiểu biết về tuân thủ thuế tại thời điểm đó là nguyên thủy và cho rằng nghiên cứu cơ bản hơn là cần thiết trước khi chúng ta có thể bắt đầu hiểu trốn thuế. Phần I của bài viết xem xétcác biến tuân thủ chủ yếu là tuổi tác, giới tính, giáo dục, mức thu nhập, nguồn thu nhập, nghề nghiệp, ảnh hưởng vị thế, đạo đức, công bằng, phức tạp, IRS liên lạc, khả năng phát hiện, xử phạt, mức thuế suất, và các biến khác. Phần II là có liên quan với các cân nhắc về phương pháp luận. Phần III lần lượt đến các khu vực lý thuyết có liên quan đến nghiên cứu tuân thủ - thuyết triển vọng, lý thuyết răn đe,cấu trúc nhận thức và lý thuyết cơ quan.
Các tác giả cũng nêu ra hai hướng chung cho các nghiên cứu trong tương lai - tái tạo và mở rộng các vấn đề mà họ xét trong bài báo này và nhấn mạnh hơn và chú ý đến những nỗ lực nghiên cứu trong quá khứ. Tóm tắt của Ahmed và các cộng sự (2003), trang 136 2. Mô hình của Fischer và các cộng sự (1992) Trên cở sở 14 yếu tố được xác định bởi Jackson and Milliron (1986), Fischer và các cộng sự đã phân các yếu tố này thành bốn nhóm yếu tố chính bao gồm nhóm yếu tố về nhân khẩu học, cơ hội không tuân thủ, thái độ và nhận thức, cấu trúc/hệ thống chính sách thuế. Dựa trên nền tảng của các nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ của người nộp thuế đã kết luận và đưa ra hướng nghiên cứu trong tương lai, chủ yếu các nghiên cứu trước đây chỉ nghiên cứu hành vi không c 10 tuân thủ của các cá nhân, có hoặc rất ít các bài nghiên cứu về hành vi tuân thủ của các doanh nghiệp, sự đa dạng của hành vi không tuân thủ thủ của các doanh nghiệp được quan tâm nhiều hơn, điều này có ý nghĩa đáng kể về tính công bằng giữa cá nhân và doanh nghiệp.
Trong nghiên cứu này tác giả đã có góc nhìn đa chiều về hành vi tuân thủ thuế, nó là sự tác động của những yếu tố kinh tế xã hội đến tâm lý học. Hạn chế của nghiên cứu này là tác giả chỉ nghiên cứu hành vi của các doanh nghiệp mà chưa nghiên cứu đến hành vi của từng cá nhân đến quyết định tuân thủ thuế. Mô hình Fischer và cộng sự được trình bày như hình Cơ hội không tuân thủ thuế (mức thu nhập, nguồn thu nhập, nghề nghiệp) Các biến nhân khẩu học Thái độ và nhận thức (độ tuổi, giới tính và (công bằng của hệ Hành vi tuân thủ giáo dục) thống thuế) của người nộp thuế Hệ thống thuế (sự phức tạp, xác suất phát hiện, hình phạt, các mức thuế) Hình 2. Mô hình tuân thủ thuế của Fischer và các cộng sự Nguồn: Fischer và các cộng sự (1992) 2.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp Qua nghiên cứu các nghiên cứu trước kết hợp với thực tế công tác, tác giả cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ kê khai thuế của doanh nghiệp như sau: c 11 Đặc điểm doanh nghiệp Loại hình sở hữu của doanh nghiệp Bản chất và phạm vi tuân thủ thuế khác nhau giữa các DN có sở hữu khác nhau. Ví dụ giữa DN một chủ sở hữu và DN nhiều chủ sở hữu, giữa DN tư nhân và DN nhà nước.