LỜI MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia và quan hệ quốc tế. Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ thƣơng mại với khoảng 160 nƣớc và vùng lãnh thổ, tham gia 86 hiệp định thƣơng mại, 46 hiệp định hợp tác đầu tƣ, đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO - tổ chức thƣơng mại lớn nhất toàn cầu. (Nguồn: website Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế -http:// www.
Việc mở cửa nền kinh tế sẽ khắc phục đƣợc tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế, mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam, thúc đẩy thƣơng mại phát triển, thu hút vốn, lao động trình độ cao, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới của nƣớc ngoài để phát triển nền kinh tế. Hội nhập ngày càng sâu vào nền kinh tế quốc tế, các luồng vốn, đầu tƣ, thƣơng mại hàng hoá, dịch vụ, lao động sẽ luân chuyển linh hoạt và ít bị hạn chế giữa Việt Nam và các quốc gia khác. Và cùng với đó, sự cƣ trú, hoạt động kinh doanh của thể nhân, pháp nhân Việt Nam và nƣớc ngoài ngày càng thuận lợi và không còn bó hẹp trong phạm vi mỗi quốc gia. Để thu hút đầu tƣ, công nghệ, lao động có trình độ thì ngoài yếu tố điều kiện kinh doanh, thuế cũng là yếu tố mà nhà đầu tƣ cân nhắc vì nó ảnh hƣởng trực tiếp tới thu nhập, lợi nhuận của họ.
Quyền đánh thuế là phạm trù thuộc chủ quyền quốc gia, chỉ Nhà nƣớc mới có quyền ban hành các sắc thuế và thực hiện việc thu thuế. Trong tình hình hiện nay, một thể nhân, một pháp nhân có thể là đối tƣợng nộp thuế của hơn một quốc gia, nếu không có sự 3 z phân định quyền đánh thuế giữa các quốc gia có quan hệ kinh tế với nhau thì sẽ xảy ra hiện tƣợng “thuế chồng lên thuế”- một khoản thu nhập bị đánh thuế hai lần. Điều này ảnh hƣởng đến lợi ích của đối tƣợng nộp thuế, đồng thời không khuyến khích giao lƣu kinh tế. Chính vì vậy mà bên cạnh các cam kết đa phƣơng và song phƣơng về thƣơng mại, đầu tƣ, cắt giảm thuế quan, các quốc gia đã ký với nhau những hiệp định tránh đánh thuế hai lần nhằm phân định rõ thẩm quyền đánh thuế, tránh tình trạng đánh thuế trùng.
Cho đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 58 hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia và cùng lãnh thổ khác nhau (Theo website Tổng cục Thuế: www. Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng toàn diện vào nền kinh tế thế giới, việc nghiên cứu “Các hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nước ngoài” có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Tình hình nghiên cứu đề tài Song hành cùng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nƣớc ta, số lƣợng các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam ký kết ngày càng tăng, số lƣợng cá nhân, doanh nghiệp có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần ngày càng nhiều. Tuy nhiên, cho tới nay, ngoài một số ít bài viết đề cập vấn đề này chủ yếu dƣới góc độ kinh tế hoặc đánh giá tinh hình thực thi các hiệp định tránh đánh thuế hai lần trong thực tế thì chƣa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nƣớc ngoài, nhất là dƣới góc độ pháp lý.
Vì vậy, có thể nói, việc nghiên cứu các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nƣớc ngoài một cách có hệ thống dƣới góc độ pháp lý là vấn đề tƣơng đối mới và cần thiết. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề cơ bản của việc xóa bỏ đánh thuế hai lần, các quy định cụ thể trong các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết và quy định cụ thể trong pháp luật Việt Nam liên quan đến việc tránh đánh thuế hai lần để phát hiện những điểm bất cập, chƣa phù hợp, qua đó kiến nghị, đề xuất phƣơng hƣớng hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này phù hợp thông lệ quốc tế nhằm tạo lập môi trƣờng kinh doanh thuận lợi, phát triển giao lƣu kinh tế giữa Việt Nam và các nƣớc. Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn đi vào nghiên cứu nguồn gốc của tình trạng đánh thuế hai lần, cơ chế xóa bỏ việc đánh thuế hai lần, các nội dung cụ thể về tránh đánh thuế hai lần quy định tại các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết với các nƣớc và các quy định có liên quan trong pháp luật Việt Nam, và trên cơ sở nghiên cứu các vấn đề vừa nêu để đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về tránh đánh thuế hai lần của Việt Nam, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và nƣớc ngoài, có sự đối chiếu so sánh với các quy định có liên quan của pháp luật Việt Nam Trong mỗi Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký với các nƣớc không những chỉ quy định về tránh đánh thuế hai lần mà còn có một số nội dung khác nhƣ không phân biệt đối xử, chống gian lận thuế., và liên quan đến tránh đánh thuế hai lần còn có những nội dung mang tính kỹ thuật 5 z nhƣ tính toán số thuế phải nộp, số thuế khấu trừ.
Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, phạm vi nghiên cứu đƣợc tập trung vào tính pháp lý của vấn đề tránh đánh thuế hai lần. Phương pháp nghiên cứu Đề tài đƣợc nghiên cứu dựa trên các quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về nhà nƣớc và pháp luật, các chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc về kinh tế đối ngoại. Các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể đƣợc sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phƣơng pháp nghiên cứu, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so sánh. 6 z CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN VÀ CÁC HIỆP ĐỊNH TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN CỦA VIỆT NAM 1.
Đánh thuế hai lần Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành xu thế khách quan chi phối sự phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia và quan hệ giữa các quốc gia với nhau. Do ƣu thế của từng nƣớc về các nguồn lực nhƣ tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, công nghệ. là khác nhau, mức độ phát triển kinh tế- xã hội cũng không đồng đều nên nhu cầu giao thƣơng, hợp tác để cùng phát triển là nhu cầu tự nhiên và tất yếu. Ngày nay, hợp tác kinh tế quốc tế giữa các quốc gia là một xu thế tất yếu diễn ra trên các lĩnh vực thƣơng mại hàng hóa, thƣơng mại dịch vụ và thƣơng mại đầu tƣ với nhiều hình thức phong phú giữa công dân, pháp nhân và giữa các nhà nƣớc với nhau với phạm vi cả song phƣơng, khu vực và toàn cầu.
Trong bối cảnh hội nhập, các hoạt động thƣơng mại dịch vụ, thƣơng mại hàng hóa và đầu tƣ giữa các quốc gia đều gia tăng, cùng với đó là sự di trú của các cá nhân từ quốc gia này sang quốc gia khác, sự mở rộng phạm vi kinh doanh của các doanh nghiệp sang các quốc gia khác. Do mở rộng giao lƣu kinh tế quốc tế nên quan hệ thuế cũng đƣợc mở rộng ra ngoài phạm vi quốc gia. Nếu nhƣ trƣớc đây, quan hệ thuế đƣợc xác lập chủ yếu trên cơ sở quốc tịch thì ngày nay, quan hệ thuế còn liên quan đến quốc gia mà cá nhân, doanh nghiệp đó không mang quốc tịch. 7 z Quyền đánh thuế của một quốc gia vào thu nhập của một đối tƣợng phát sinh trên cơ sở một trong hai hoặc cả hai yếu tố: sự cƣ trú và thu nhập.
Cƣ trú đối với cá nhân đƣợc xác định cơ sở một số tiêu thức nhƣ sự có mặt của cá nhân trên lãnh thổ một quốc gia trong một thời gian nhất định, sự gắn bó của cá nhân với một quốc gia căn cứ vào các mối quan hệ quốc tịch, nhà ở thƣờng trú.; đối với doanh nghiệp thì yếu tố cƣ trú đƣợc xem xét căn cứ vào việc doanh nghiệp đó thành lập và hoạt động theo pháp luật nƣớc nào. Thu nhập là các khoản tiền thu đƣợc từ lợi nhuận kinh doanh, tiền lƣơng, cho thuê tài sản, cổ tức.phát sinh trên lãnh thổ một quốc gia mà theo pháp luật thuế của quốc gia phát sinh thu nhập và/hoặc quốc gia mà cá nhân hoặc doanh nghiệp đó là đối tƣợng cƣ trú là thu nhập chịu thuế và bị đánh thuế. Việc đánh thuế vào các khoản thu nhập này không phụ thuộc vào nơi nhận và trả thu nhập (nơi nhận hoặc trả thu nhập có thể nằm ngoài lãnh thổ của một hoặc cả hai quốc gia mà đối tƣợng đó có nghĩa vụ thuế). Xem xét yếu tố cƣ trú và thu nhập trong việc hình thành quan hệ thuế thì có các trƣờng hợp sau: Trƣờng hợp 1: Đối tƣợng cƣ trú của một nƣớc và thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nƣớc đó.
Trƣờng hợp này quan hệ thuế hoàn toàn do luật thuế trong nƣớc điều chỉnh. Trƣờng hợp 2: Đối tƣợng cƣ trú ở một nƣớc nhƣng không có thu nhập chịu thuế. Trƣờng hợp này không phát sinh quan hệ thuế do không có đối tƣợng chịu thuế (khoản thu nhập bị đánh thuế). 8 z Trƣờng hợp 3: Đối tƣợng cƣ trú của nƣớc một nƣớc nhƣng có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nƣớc khác.
Trƣờng hợp này một đối tƣợng có nghĩa vụ thuế với cả nƣớc cƣ trú và nƣớc phát sinh thu nhập. Trƣờng hợp 4: Không phải đối tƣợng cƣ trú của một nƣớc nhƣng có thu nhập phát sinh trên lãnh thổ nƣớc đó. Trƣờng hợp này đối tƣợng có nghĩa vụ thuế với cả nƣớc cƣ trú và nƣớc phát sinh thu nhập. Bên cạnh yếu tố cƣ trú và thu nhập thì còn cần xem xét đến yếu tố thời gian xác định nghĩa vụ thuế, đó là kỳ tính thuế.
Kỳ tính thuế là khoảng thời gian để xác định số thuế phải nộp theo quy định của pháp luật thuế.