Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VIỆT NAM VÀ THỰC TRẠNG DỊCH BỆNH DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1883) Triều Nguyễn là một triều đại đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Đặc biệt ngay từ sự ra đời – hành trình giành lại vương quyền đầy gian truân của vương tử Nguyễn Phúc Ánh, tức vua Gia long sau này. Trong suốt các thế kỉ XVII, XVIII, cục diện Trịnh – Nguyễn phân tranh không có hồi kết đã khiến đời sống nhân dân vô cùng cực khổ, lầm than. Chính vì vậy, năm 1771, ba anh em Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ đã đứng lên dấy cờ khở nghĩa.
Đối tượng đầu tiên mà phong trào này nhắm tới đó chính là chính quyền chúa Nguyễn Đàng Trong đang bị quyền thần Trương Phúc Loan thao túng. Năm 1777, gia tộc chúa Nguyễn mất vương quyền và bị tiêu diệt, duy chỉ có Nguyễn Phúc Ánh thoát thân, phải chạy ra đảo Thổ Chu lánh nạn. Lợi dụng bất hòa của anh em Tây Sơn, năm 1778, Nguyễn Ánh trở về, bí mật xây dựng lực lượng, đưa quân về đánh thành Gia Định. Tìm kiếm giúp đỡ từ phía Xiêm nhưng lần lượt thất vọng về sự thất bại của quân Xiêm trước nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh tăng cường tìm kiếm viện trợ từ phía nước Pháp.
Việc không thành, nhưng đổi lại lúc này Nguyễn Ánh nhận được sự trợ giúp của giám mục Bá Đa Lộc, cũng như một bộ phận đại địa chủ ở Gia Định, vì vậy, thế lực Nguyễn Ánh ngày càng mạnh lên. Năm 1972, triều Tây Sơn đang trên đà phát triển mạnh thì vua Quang Trung đột ngột qua đời, bỏ lại cả một sự nghiệp dang dở. Người kế vị là Quang Toản đã không đủ sức để gánh các trọng trách được giao phó. Trước tình hình đó, Nguyễn Ánh đưa quân tấn công Quy Nhơn (năm 1793).
Nội bộ nhà Tây Sơn rạn nứt nghiêm trọng, lực lượng quân đội ngày càng rệu rã. Tháng 7 năm 1802, Nguyễn Ánh chiếm được thành Thăng Long, chính thức đặt dấu chấm hết cho vương triều Tây Sơn, đồng thời mở ra một triều đại mới 5 trong lịch sử Việt Nam – vương triều Nguyễn. Nguyễn Ánh lên ngôi vua, lấy niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế). Tồn tại suốt 143 năm (1802 – 1945), triều Nguyễn đã trải qua một thời kì đầy biến động và phân hóa sâu sắc trong lịch sử nước ta.
Là tấm gương phản chiếu hơn ngàn năm chế độ phong kiến quân chủ và là đêm trước của công cuộc giành độc lập, xây dựng nước ta ngày nay. Chính sự ra đời và tồn tại trong giai đoạn đặc biệt như vậy, nên đánh giá về vương triều này có rất nhiều ý kiến trái chiều. Nhiều khía cạnh về vương triều này được đưa ra tranh luận với các ý kiến không đồng nhất giữa các giai đoạn lịch sử, thậm chí trong cùng giai đoạn cũng nhiều quan điểm khác nhau. Chính vì vậy, trước khi đi tìm hiểu về bệnh dịch và cách phòng chống của triều Nguyễn (1802 – 1883), chúng tôi tìm hiểu về tình hình khái quát của Việt Nam dưới triều Nguyễn (1802 - 1883) để góp phần tạo cái nhìn đúng đắn hơn về triều đại này.
Khái quát tình hình Việt Nam dưới Triều Nguyễn (1802 - 1883) 1. Chính trị - kinh tế *Chính trị Dường như, chưa từng có quốc gia nào mà sự cát cứ, chống đối giữa các thế lực phong kiến lại kéo dài như Đại Việt ta. Suốt nửa đầu thế kỉ XVI (1533) đến đầu thế kỉ XIX (1802). Bức tranh lịch sử với những sự kiện bi hùng xảy ra dồn dập.
Cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều vừa chấm dứt thì cuộc chiến Trịnh – Nguyễn lại tiếp tục đưa đất nước rơi vào cảnh chia cắt lần hai. Xen vào đó là phong trào Tây Sơn nổi lên cuối thế kỉ XVIII. Những cuộc chiến làm nội lực đất nước bị suy yếu, gây chia rẽ vùng miền, tạo cơ hội cho cuộc ngoại xâm, cũng như để lại nhiều dấu ấn khác biệt về văn hóa, tính cách, ngôn ngữ, tập quán trong quá trình phát triển đất nước, con người Việt Nam giữa các địa phương. 6 Đầu thế kỉ XIX, Nguyễn Phúc Ánh lật đổ triều Tây Sơn, lên ngôi vị hoàng đế, đã chính thức chấm dứt 275 năm chia cắt, thống nhất đất nước liền một dãy từ ải Nam Quan tới mũi Cà Mau.
Quốc sử quán triều Nguyễn và Trần Trọng Kim đều cùng chung quan điểm khẳng định công lao thống nhất đất nước của Nguyễn Ánh – Gia Long. Trần Trọng Kim cho rằng: “Vua Thế Tổ Cao Hoàng đế nhà Nguyễn cất quân ra Bắc, lòng người theo phục, chỉ một tháng trời mà bình định được Bắc Hà, đem giang sơn về một mối, Nam Bắc một nhà, làm cho nước ta thành một nước lớn ở phương Nam vậy… Thế tổ khởi binh chống nhau với Tây Sơn ở đất Gia Định từ năm Mậu Tuất (1778) kể từ 24 năm, mới dứt được nhà Tây Sơn, thu phục được giang sơn cũ của chúa Nguyễn khi xưa và họp cả Bắc Nam lại một khối” [23, tr. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long đã xây dựng, kiện toàn hệ thống hành chính, quan chế cho chính quyền mới. Về cơ bản, triều Nguyễn vẫn giữ các quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước.
Đứng đầu là vua, nắm mọi quyền hành. Giúp việc giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1929 đổi tên là Nội Các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia.
Bên dưới, triều đình lập ra sáu bộ: Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của nhà nước. Bên cạnh 6 bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, 5 Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,. cùng với một số Ty và Cục khác.
Theo Trần Trọng Kim, người ta “thường hiểu mấy chữ quân chủ chuyên chế theo nghĩa của các nước Tây Âu 7 ngày nay, chứ không biết mấy chữ ấy theo cái học Nho giáo có nhiều chỗ khác nhau. Theo đó, nhà Nguyễn đã thiết lập một bộ máy chính quyền từ trung ương tới địa phương khá tiến bộ. Khi triều đình có việc gì quan trọng, thì vua giao cho đình thần các quan cùng nhau bàn xét. Quan lại bất kỳ lớn bé đều được đem ý kiến của mình mà trình bày.
Việc gì đã quyết định, đem dâng lên để vua chuẩn y, rồi mới thi hành. Hoàng đế tuy có quyền lớn nhưng lại không được làm điều gì trái phép thường. Khi vua có làm điều gì sai thì các quan Giám sát Ngự sử có quyền can ngăn vua và thường là vua phải nghe lời can ngăn của những người này. Ở địa phương, nhân dân được phép tự chọn ra người tài để quản trị địa phương của mình.
Năm 1802, sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh chọn Phú Xuân (Huế) làm quốc đô. Ông vẫn đặt 11 trấn phía bắc làm một tống trấn với tên gọi cũ là Bắc thành, do một tổng trấn cai quản. Năm 1831 - 1832, dưới thời vua Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính nhà nước, nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam.
Năm 1831, Minh Mạng đổi các trấn từ Quảng Trị trở ra thành 18 tỉnh và vùng còn lại ở phía Nam được chia làm 12 tỉnh. Thừa Thiên, nơi toạ lạc của kinh đô Phú Xuân, là phủ trực thuộc Trung ương. Cả nước được chia làm 30 tỉnh và phủ Thừa Thiên. Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh).
Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp, về sau mới bổ dụng thêm các quan văn. Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã.
Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Nhìn chung, hệ thống chính quyền được phân rõ từ trung 8 ương tới địa phương, vua là người đứng đầu và có quyền lực nhiều hơn so với những triều đại trước. Tính đến thế kỉ XIX, nước ta có 98 phủ, 342 huyện và châu. Về vấn đề chủ quyền biển đảo thời kì này cũng được các vua nhà Nguyễn quan tâm chú trọng, nhất là đối với hai quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa.
Từ năm 1816, sau khi chính thức ra lệnh tiếp thu quần đảo Hoàng Sa thì Nguyễn Ánh cũng đã cho cắm cờ và tiến hành đo đạc thuỷ trình. Tới thời vua Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Hải đội Hoàng Sa và Bắc Hải được thành lập vụ nhiệm vụ: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và biên phòng bảo vệ hai quần đảo. * Kinh tế Nông nghiệp: Cũng như những triều đại trước, nhà Nguyễn vẫn là triều đại “dĩ nông vi bản”.
Ngay từ khi mới lên ngôi, vua Gia Long đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích nông nghiệp phát triển như: cấm mua bán ruộng đất công, lập kho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, kho Bình thiếu, Sở Đồn điền,. Hàng năm, các vua Nguyễn cũng tiến hành lễ Tịch điền khuyến khích nông nghiệp. Quỹ ruộng đất công là một vấn đề nan giải của triều Nguyễn, nó ảnh hưởng đến thu nhập quốc khố, và cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra. Ý thức được được điều này, ngay từ đầu triều đại, Gia Long đã ra lệnh cấm bán ruộng đất công và quy định chặt chẽ việc cầm cố loại công điền, công thổ này để đảm bảo nông dân ai cũng có đất cày.
Khi nhân dân liên tục thất thu, triều đình thường phải giảm thuế, miễn thuế và phát chẩn. Tới thời vua Minh Mạng, vua Nguyễn đã định lại chính sách quân điền và tiến hành chia lại ruộng đất công cho nhân dân.