CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE QUYỀN SHTT TRONG NEN KINH TE THỊ TRƯỜNG VA HOI NHẬP QUỐC TE 1. Sự cần thiết của việc bảo hộ quyền SHTT 1. Khái niệm quyền SHTT Cho đến nay, “quyền SHTT” vẫn còn là một khái niệm pháp lý khá mơ hồ đối với nhiều người, song mức độ sử dụng thuật ngữ này đang ngày càng gia tăng cùng với sự lan tỏa nhanh chóng của các vấn đề liên quan đến quyền SHTT. Diễn giải một cách đơn giản nhất, quyền SHTT là quyền sở hữu đối với các tài sản trí tuệ.
Với cách hiểu như vậy thì, ở đây, tài sản trí tuệ được coi là yếu tố cơ bản hình thành quyền SHTT. Vi vậy, để hiểu rõ khái niệm “quyền SHTT”, trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và các đặc trưng của “tài sản trí tuệ”. Theo khái niệm được thừa nhận rộng khắp, tài sản trí tuệ là những thành quả do trí tuệ con người tạo ra thông qua hoạt động sáng tạo thé hiện thành những mẫu thông tin kết hợp chặt chẽ với nhau trong các vật thể hữu hình xuất hiện trong cùng một thời gian với số lượng bản sao không giới hạn ở những địa điểm khác nhau trên thế giới và được thừa nhận là tài sản. Quyền sở hữu trong trường hợp này không phải là quyền sở hữu bản thân các bản sao mà chính là những thông tin chứa đựng trong các bản sao đó”.
Khi được thể chế hoá thi những mau thông tin này biểu hiện cụ thé thành các đối tượng của quyền SHTT như: tác phẩm văn học nghệ thuật, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá, sáng chế, kiểu đáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, giống cây trồng Trới, V. Tài sản trí tuệ là loại tài sản đặc biệt, có nhiều thuộc tính đặc thù, và những thuộc tính này ảnh hưởng đến tính chất của quyền SHTT. Một điểm đáng chú ý là ° Lé Xuân Thảo (2005), Đồi mới và hoàn thiện pháp luật về SHTT, NXB Tư pháp Hà Nội. tài sản trí tuệ có tính chất của một hàng hoá công cộng toàn cầu.
Nó có tính phi cạnh tranh và phi loại trừ trong sử dụng. Điều này khiến cho quyền SHTT phải được quyết định bởi nhà nước, chứ không phải thị trường, dé sửa chữa thất bại của thị trường. Khi tài sản trí tuệ được nhà nước bảo hộ, thì người nam gitt tai san đó có một số quyền nhất định đối với tài sản của mình, đó chính là quyền SHTT; và cũng từ đó tài sản trí tuệ mới trở thành một loại tài sản quan trọng có giá trị. Như vậy, quyên SHTT là quyền mà nhà nước dành cho các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu tài sản trí tuệ sự kiểm soát độc quyên trong một thời gian nhất định nhằm ngăn chặn sự khai thác các tài sản này một cách bắt hợp pháp.
Theo Luật SHTT được thông qua vào thang 11/2005 của Việt Nam (sau đây được gọi là Luật SHTT 2005), quyên SHTT là quyền của các tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gom quyén tác giả va quyền liên quan đến tác giả, quyên sở hữu công nghiệp và quyên đối với giống cây trông. (1) Quyên tác giả và quyên liên quan - Quyền tác giả: Quyền tác giả (hay còn được gọi là bản quyền) là một thuật ngữ pháp lý mô tả quyền lợi của người sáng tác ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, và khoa học được thể hiện ở dạng hữu hinh®, trong đó bao gồm quyền tái bản, in ấn và trình diễn hay trưng bay tác phâm của mình trước công chúng. Quyền tác giả là quyền duy nhất do chính phủ trao cho tác giả của tác phẩm để ngăn cản việc in sao, sửa đổi, hoặc phân phối tác phẩm, trình diễn hoặc trình bay tác phẩm đó mà không được sự đồng ý của tác giả. Nhà nước bảo hộ quyền tác giả thông qua hệ thống pháp luật- xác lập quyền của chủ thể (có thể là tổ chức hoặc cá nhân) đối với đối tượng quyền tác giả tương ứng và bảo vệ quyền đó © Can lưu ý sự bảo hộ chi áp dung đối với sự thể hiện các ý tưởng dưới dạng hữu hình chứ không áp dụng sự bảo hộ đối với chínhý tưởng đó.
Thí dụ, khi một tác giả bộc lộ ý tưởng của mình là làm thế nào đề chế tạo. được một máy thu radio trong một bài báo đăng trên một tạp chí, thì tác giả được hưởng “bản quyền” ° đối với bài báo đó và như vậy không ai được phép sao chụp bài báo đó mà không được sự đồng ý của tác giả, song tác giả sẽ không có quyền ngăn cản người khác sử dụng ý tưởng đó để tạo ra một chiếc radio như được mô tả trong bài báo của tác giả. chống lại bất cứ sự xâm phạm nào của phía thứ ba. Các tác pham van hoc, nghé thuật, khoa học được bao hộ không phụ thuộc vào chất lượng của chúng.
- Quyên liên quan: Đó là quyền của tổ chức, cá nhân đối với các cuộc biéu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa. Đây là các cá nhân, tổ chức không phải là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm gốc, nhưng lại có sáng tạo trong việc thể hiện tác phẩm, hoặc chuyển tác phẩm đến với công chúng. Ở các nước, quyền liên quan từ lâu đã được đưa vào luật quyền tác giả. Đối với Việt Nam, quyên liên quan là một lĩnh vực tương đối mới.
(2) Quyên sở hữu công nghiệp Theo Luật SHTT 2005, quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp ban dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Bản chất của quyền sở hữu công nghiệp là bảo hộ nội dung ý tưởng sáng tạo, chống lại việc khai thác bất hợp pháp ở quy mô công nghiệp. Các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp được trình bay trong Hộp 1. Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp - Bằng sáng chế (patent).
Bằng sáng ché là một quyền theo luật định mà chính phủ ban cho nhà sáng chế trong một thời hạn xác định dé ngăn ngừa các đối tượng khác sản Xuất, sử dụng hoặc bán sản phẩm được bảo hộ theo bằng sáng chế hoặc sử dụng phương pháp hoặc quy trình đang được bảo hộ. Có thé nói rằng bằng sáng chế là hợp) đồng giữa một bên là toàn thể xã hội và một bên là nhà sáng chế”. Theo các điều khoản của hợp đồng này, nhà sáng chế được toàn quyền ngăn chặn người khác không được áp dụng, sử dụng và bán một sáng chế đã được cấp bằng sáng chế trong một khoảng thời gian nhất định đề đồi lại việc nhà sáng chế phải công bố chỉ tiết sáng chế của mình cho công chúng. Bằng sáng chế không được cấp cho những ý tưởng mơ hồ mà chỉ được cấp ”_Thomas G.
Field (2006), What is intellectual proper(y?http://vietnamese.gov, 10 cho những đơn xin cấp bằng được trình bày một cách cụ thé và can thận. Quy trình xét duyệt và cấp bằng sáng chế đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức của các nhà chuyên môn. - Kiểu dáng công nghiệp: Là hình dang bên ngoài của sản phẩm được thé hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp những yếu tố này. - Bí mật thương mại: Bí mật thương mại có thể là công thức sản xuất ra các sản phẩm, chẳng hạn như công thức sản xuất Coca Cola.
Thông tin bí mật đó được bảo hội chống lại những người tiếp cận thông tin này qua cách thức không phù hợp hoặc bằng việc tiết lộ bí mật. Vi phạm bí mật thương mại là một kiêu cạnh tranh không lành mạnh. - Nhãn hiệu: Nhãn hiệu là chỉ số chỉ din thương mai, là dấu hiệu phân biệt đề xác định một loại hàng hóa hay dịch vụ do một cá nhân hay công ty cụ thể sản xuất hoặc cung cấp. Nhãn hiệu đặc biệt quan trọng khi người sản xuất và tiêu dùng ở cách xa nhau.
Ở hầu hết các nước trên thế giới, nhãn hiệu cần phải được đăng ký theo Luật Nhãn hiệu hàng hóa thì mới có thể bảo hộ được và việc đăng ký cần phải được ra hạn. Hiện nay, sé đơn đăng ký và số giấy chứng nhận đăng bạ nhãn hiệu hàng hóa ngày càng tăng ở từng nước, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Trong) những năm gần đây, hàng năm trên thế giới có từ 600 đến 700 nghìn nhãn hiệu được cấp giấy chứng nhận đăng ký. - Chỉ dẫn địa lý: Chỉ dẫn địa lý là khái niệm rộng hơn tên gọi xuất xứ hàng hoá, bao gồm cả dấu hiệu, biểu tượng hình ảnh, dùng để chỉ về một khu vực địa lý, nơi hàng hoá xuất xứ có “đặc trưng về chất lượng, uy tín, danh tiếng hoặc các đặc tính khác” chủ yếu do nguồn gốc địa lý tạo nên.
- Thiết kế bồ trí mạch tích hợp bán dẫn: Là cấu trúc không gian của các phần tử mach và mối liên kết các phan tử đó trong mạch tích hợp bán dẫn. - Tên thương mại: Là tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh dé phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh. Nguồn: Luật SHTT 2005 và một số nguồn khác. 11 (3) Quyên đối với giống cây trồng Giống cây trồng và vật liệu nhân giống đã trở thành đối tượng của quyền SHTT được bảo vệ theo Công ước về bảo vệ giống cây trồng năm 1961.
Theo Luật SHTT 2005, quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Nhu cầu khách quan của việc bảo hộ quyền SHTT Nhìn từ quan điểm triết học, có ba quan điểm khác nhau về “sở hữu trí tuệ”. Quan điểm thức nhất coi sản phẩm sáng tạo trí tuệ như các sản phẩm lao động khác, do đó người tạo ra các sản phẩm này có quyền tư hữu, và Nhà nước bảo hộ quyền tư hữu đó. Quan điểm thứ hai thì coi sản phẩm sáng tạo trí tuệ thuộc toàn xã hội, không thừa nhận quyền SHTT; người tạo ra sản phẩm trí tuệ có giá trị được Nhà nước thưởng công hoặc ghi công.