Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Giải quyết tranh chấp quyền tác giả ở Việt Nam hiện nay" do sinh viên Nguyễn Ngọc Mai thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Bích Thảo tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội (năm 2020). Công trình thuộc nhóm nghiên cứu pháp lý – lý luận kết hợp phân tích thực trạng áp dụng pháp luật tố tụng dân sự trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ (SHTT).

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng sở hữu trí tuệ đóng vai trò là động lực thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, phát triển tài sản trí tuệ quốc gia và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Quyền tác giả là kết quả của sự đầu tư trí tuệ, công sức và tài chính của cá nhân, tổ chức. Do đó, việc bảo hộ quyền tác giả có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và khuyến khích sáng tạo. Trên bình diện quốc tế, giải quyết tranh chấp dân sự về quyền tác giả tại Tòa án được coi là phương thức bảo vệ quyền hữu hiệu và phổ biến nhất. Tuy nhiên, tại Việt Nam, số lượng tranh chấp quyền tác giả được Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự còn rất hạn chế so với các tranh chấp dân sự, kinh tế khác. Đáng chú ý, trong số ít vụ án được đưa ra xét xử, nhiều vụ bị hủy nhiều lần để xét xử lại theo thủ tục chung, gây tốn kém thời gian và thiệt hại cho đương sự.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận tập trung giải quyết 3 nhiệm vụ chủ yếu:

  1. Làm rõ bản chất của quyền tác giả và tranh chấp quyền tác giả;
  2. Đánh giá thực trạng của giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án tại Việt Nam;
  3. Đề xuất, kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn xét xử các vụ việc tranh chấp quyền tác giả tại hệ thống Tòa án nhân dân ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Về không gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật và thực tiễn giải quyết tranh chấp trên lãnh thổ Việt Nam;
  • Về nội dung: Giới hạn trong quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; khóa luận loại trừ và không nghiên cứu các quyền liên quan;
  • Về thời gian: Khảo sát quy định pháp luật và các dữ liệu xét xử từ thời điểm Luật SHTT năm 2005 có hiệu lực cho đến năm 2020 (với các mốc số liệu thống kê giai đoạn 2006–2012 và 2012–2016).

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận được xây dựng trên nền tảng triết học Mác – Lênin với phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được tác giả kết hợp sử dụng gồm:

  • Phương pháp lịch sử và logic: Phân tích sự hình thành, phát triển của chế định quyền tác giả và các quy phạm tố tụng;
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các điều luật, quy định nội luật và số liệu thực tiễn xét xử;
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế.

Hệ thống khung lý thuyết, văn bản pháp luật và điều ước quốc tế được tác giả viện dẫn gồm:

  • Tuyên ngôn chung về Nhân quyền và các thỏa ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về quyền con người;
  • Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật;
  • Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs 1994), cụ thể là Khoản 1 Điều 43 về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ;
  • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS 2015);
  • Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung các năm 2009 và 2019);
  • Nghị định số 22/2018/NĐ-CP hướng dẫn Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan (đối chiếu với Nghị định 100/2006/NĐ-CP và Nghị định 85/2011/NĐ-CP);
  • Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-BKHCN năm 2014 (hợp nhất Nghị định 119/2010/NĐ-CP và Nghị định 105/2006/NĐ-CP);
  • Thông tư liên tịch số 02/2008/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BVHTT&DL-BKH&CN-BTP hướng dẫn áp dụng quy định pháp luật trong giải quyết tranh chấp SHTT tại Tòa án;
  • Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC;
  • Thông tư số 02/2019/TT-BVHTTDL quy định quy trình giám định tư pháp về quyền tác giả, quyền liên quan.

Nguồn dữ liệu phục vụ phân tích thực trạng gồm số liệu thống kê của Tòa án nhân dân tối cao qua các giai đoạn (tháng 7/2006 – tháng 6/2012 và giai đoạn 2012–2016), các nghiên cứu của TS. Nguyễn Hợp Toàn, PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Thủy, PGS.TS Trần Văn Nam, TS. Nguyễn Văn Luật và hồ sơ vụ án thực tế thụ lý tại Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận chung về quyền tác giả và giải quyết tranh chấp quyền tác giả

Trong chương đầu tiên, tác giả phân tích các khái niệm nền tảng, điều kiện, nội dung và các cơ chế giải quyết tranh chấp quyền tác giả:

  • Khái niệm và đặc điểm của quyền tác giả: "Tác giả" là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học bằng lao động trí tuệ mà không sao chép từ người khác. Quyền tác giả mang 5 đặc điểm chính:

    1. Đối tượng là tài sản vô hình và luôn mang tính sáng tạo: Do không có hình thái vật chất nên quyền chiếm hữu không được đặt ra, thay vào đó quyền khai thác và sử dụng giữ vai trò trọng tâm;
    2. Chỉ bảo hộ hình thức sáng tạo, không bảo hộ nội dung sáng tạo: Pháp luật bảo hộ sự thể hiện ý tưởng chứ không bảo hộ bản thân ý tưởng, bất kể giá trị hay chất lượng nghệ thuật;
    3. Nguyên tắc bảo hộ đương nhiên (tự động): Quyền phát sinh ngay khi tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới hình thức vật chất nhất định, không phụ thuộc vào việc đã đăng ký hay công bố;
    4. Chủ thể đa dạng: Bao gồm tác giả, đồng tác giả, tác giả tác phẩm phái sinh, chủ sở hữu quyền tác giả (tổ chức giao việc, cá nhân giao kết hợp đồng), người thừa kế, bên nhận chuyển giao và Nhà nước;
    5. Quyền tác giả không được bảo hộ tuyệt đối: Có ngoại lệ không cần xin phép, không phải trả thù lao nhằm phục vụ lợi ích công cộng phi thương mại; thời hạn bảo hộ bị giới hạn (suốt cuộc đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả qua đời đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật).
  • Điều kiện bảo hộ: Tác phẩm phải có tính nguyên gốc (do tác giả trực tiếp sáng tạo, không sao chép, dù có thể kế thừa như trường hợp Truyện Kiều của Nguyễn Du chuyển thể từ Đoạn trường Tân thanh của Thanh Tâm Tài Nhân) và phải được định hình dưới một dạng vật chất nhất định.

  • Nội dung quyền tác giả:

    • Quyền nhân thân: Gồm quyền đặt tên; đứng tên thật hoặc bút danh; bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm (chỉ bảo vệ sự toàn vẹn về "nội dung tác phẩm", không cấm biên tập câu chữ, phương thức thể hiện); và quyền công bố tác phẩm. Trong đó, quyền công bố là quyền nhân thân duy nhất gắn liền với tài sản và có thể chuyển dịch; các quyền nhân thân còn lại được bảo hộ vô thời hạn.
    • Quyền tài sản: Gồm quyền làm tác phẩm phái sinh; biểu diễn tác phẩm trước công chúng; sao chép tác phẩm; phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao; truyền đạt tác phẩm đến công chúng; cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính.
  • Tranh chấp quyền tác giả và phân loại: Tranh chấp quyền tác giả là những bất đồng, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ đối tượng quyền tác giả hoặc từ các hợp đồng khai thác, sử dụng. Đặc trưng cơ bản là tính chuyên môn sâu và tính phức tạp, đa dạng do đối tượng vô hình. Khóa luận phân loại tranh chấp theo:

    • Nội dung: Tranh chấp xác định chủ thể quyền; tranh chấp do hành vi xâm phạm (theo Điều 28 Luật SHTT); tranh chấp về sử dụng hợp lý tác phẩm;
    • Tính chất: Tranh chấp dân sự (không có mục đích lợi nhuận hoặc chỉ một bên có mục đích lợi nhuận) và tranh chấp kinh doanh, thương mại (cả hai bên đều có mục đích lợi nhuận).
  • Các phương thức giải quyết tranh chấp: Khóa luận so sánh 4 phương thức xử lý tranh chấp:

Tiêu chí Thương lượng Hòa giải Trọng tài Tòa án
Bên thứ ba Không có Có trung gian hòa giải (không có quyền phán quyết) Trọng tài viên / Hội đồng trọng tài Thẩm phán nhân danh Nhà nước
Tính bảo mật Cao Cao Cao (xét xử kín) Thấp (xét xử công khai)
Tính cưỡng chế Không có Không có Phán quyết chung thẩm, thi hành theo Luật THADS Quyền lực nhà nước cưỡng chế thi hành
Chi phí & Thủ tục Đơn giản, ít tốn kém Linh hoạt, phụ thuộc thiện chí Nhanh chóng, chi phí cao Thủ tục tố tụng chặt chẽ, dễ bị kéo dài
  • Yêu cầu đối với giải quyết tranh chấp tại Tòa án: Tác giả xác định 6 yêu cầu tố tụng cốt lõi: quy định rõ chủ thể khởi kiện; phân định rõ thẩm quyền Tòa án; minh bạch hóa nghĩa vụ chứng minh và thu thập chứng cứ; chuẩn hóa quy trình và cơ quan giám định; quy định rõ căn cứ xác định thiệt hại; và xác lập khung áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án ở Việt Nam và kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp quyền tác giả

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định, thống kê dữ liệu xét xử và chỉ ra các rào cản tố tụng:

  • Thẩm quyền của Tòa án:

    • Theo loại việc: Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT quy định 13 nhóm tranh chấp quyền tác giả thuộc thẩm quyền Tòa án. Tuy nhiên, quy định này còn có sự chồng chéo, gây khó khăn cho Tòa án khi xác định quan hệ pháp luật tranh chấp.
    • Theo cấp: TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm các tranh chấp dân sự về quyền tác giả thông thường (Điều 35 BLTTDS 2015). TAND cấp tỉnh thụ lý sơ thẩm hai nhóm: (1) Tranh chấp có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài, hoặc cần ủy thác tư pháp (theo Điều 7 Nghị quyết 03/2012/NQ-HĐTP) hoặc vụ việc phức tạp lấy lên từ cấp huyện; (2) Tất cả các tranh chấp kinh doanh, thương mại về quyền tác giả (Điều 30, Điều 36 BLTTDS 2015).
    • Theo lãnh thổ: Căn cứ Điều 39 và Điều 40 BLTTDS 2015, Tòa án có thẩm quyền là nơi bị đơn cư trú/có trụ sở, hoặc nơi nguyên đơn cư trú/làm việc, hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại ngoài hợp đồng theo sự lựa chọn của nguyên đơn.
  • Quyền khởi kiện và nghĩa vụ chứng minh:

    • Chủ thể khởi kiện: Điều 198 Luật SHTT và Điều 25 Nghị định 22/2018/NĐ-CP quy định quyền khởi kiện thuộc về tác giả, đồng tác giả, chủ sở hữu quyền, người thừa kế, người nhận chuyển giao và Nhà nước. Điểm mới tại Điều 49 Nghị định 22/2018/NĐ-CP (so với Nghị định 100/2006 và Nghị định 85/2011) là cho phép tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được ủy quyền thực hiện quyền khởi kiện bảo vệ quyền tác giả.
    • Chứng minh chủ thể và hành vi xâm phạm: Đương sự có Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả không phải chứng minh quyền, trừ khi có chứng cứ ngược lại (Điều 49 Luật SHTT). Nếu không có giấy chứng nhận, nguyên đơn phải nộp chứng cứ chứng minh căn cứ phát sinh quyền theo Điều 24 Văn bản hợp nhất 03/VBHN-BKHCN. Về hành vi xâm phạm, nguyên đơn phải nộp bản gốc/bản sao hợp pháp, vật mẫu, ảnh chụp, bản giải trình so sánh sản phẩm theo Điều 25 của Văn bản này.
    • Cơ chế buộc xuất trình chứng cứ: Khoản 5 Điều 203 Luật SHTT quy định nếu chứng cứ cần thiết nằm dưới sự kiểm soát của bên kia thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên kiểm soát phải cung cấp, phù hợp với Khoản 1 Điều 43 Hiệp định TRIPs.
  • Giám định tư pháp: Theo Điều 102 BLTTDS 2015 và Thông tư 02/2019/TT-BVHTTDL (có hiệu lực từ 01/9/2019), các tổ chức giám định tư pháp quyền tác giả gồm Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Sở Văn hóa và Thể thao các tỉnh/thành, Văn phòng giám định tư pháp. Thông tư ban hành quy trình giám định gồm 6 bước: (1) Tiếp nhận yêu cầu, trưng cầu; (2) Chuẩn bị thực hiện; (3) Thực hiện giám định; (4) Kết luận giám định; (5) Bàn giao kết luận; (6) Lập và lưu giữ hồ sơ.

  • Bồi thường thiệt hại và biện pháp khẩn cấp tạm thời:

    • Căn cứ bồi thường: Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong SHTT không phụ thuộc vào yếu tố lỗi (yếu tố lỗi chỉ xem xét khi đánh giá tính chất, mức độ hành vi theo Điều 15 VBHN 03/VBHN-BKHCN).
    • Mức bồi thường vật chất: Căn cứ vào tổn thất thực tế cộng lợi nhuận bị đơn thu được; hoặc giá chuyển giao quyền sử dụng giả định. Trường hợp không xác định được theo các cách trên thì áp dụng mức bồi thường do Tòa án ấn định theo luật định: từ 5.000.000 đồng đến tối đa 500.000.000 đồng.
    • Tổn thất tinh thần: Tòa án ấn định trong giới hạn từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, kèm theo chi phí hợp lý thuê luật sư.
    • Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Điều 207 Luật SHTT cho phép thu giữ, kê biên, niêm phong, cấm thay đổi hiện trạng, cấm di chuyển đối với hàng hóa bị nghi ngờ xâm phạm, nguyên vật liệu, phương tiện sản xuất kinh doanh (nếu trên tàu biển thì bốc dỡ hàng chứ không giữ tàu). Nguyên đơn phải nộp tạm ứng chi phí lưu giữ, bảo quản.
  • Thực tiễn giải quyết và các bất cập tại Tòa án:

    • Dữ liệu thụ lý: Thống kê của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy từ tháng 7/2006 đến tháng 6/2012, các Tòa án trên cả nước chỉ thụ lý 92 vụ án tranh chấp quyền tác giả. Giai đoạn 2012–2016, tổng số vụ tranh chấp sở hữu trí tuệ giải quyết tại Tòa án tăng lên gần 200 vụ, tính trung bình chỉ khoảng 50 vụ/năm. Con số này quá thấp so với hàng nghìn vụ xâm phạm bị xử lý bằng biện pháp hành chính bởi lực lượng quản lý thị trường, thanh tra chuyên ngành và hải quan.
    • Thời gian tố tụng kéo dài: Theo Điều 203 BLTTDS 2015, thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm là 4 tháng (án dân sự) hoặc 2 tháng (án kinh doanh thương mại), gia hạn không quá 1–2 tháng. Tuy nhiên thực tế vụ án quyền tác giả bị kéo dài nhiều năm do Tòa án phải chờ kết luận từ cơ quan quản lý chuyên môn và tổ chức giám định, dẫn đến việc ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án.
    • Vụ án thực tế minh họa: Vụ kiện giữa nguyên đơn là Công ty CP Làng mộc Văn Hà (Quảng Nam) và bị đơn là Công ty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Tường Phát (Đà Nẵng). Nguyên đơn khởi kiện bị đơn xâm phạm quyền tác giả đối với bản vẽ thiết kế – kiến trúc công trình "Nhà ăn bằng gỗ – Sân vườn khu nhà ăn – Hồ nước – Hòn non bộ" của Ban Doanh trại Bộ Chỉ huy quân sự TP Đà Nẵng (bản vẽ thiết kế khu nhà rường Việt Nam, Nhà ngũ gian tứ hạ đã được Cục Bản quyền tác giả cấp chứng nhận). Tháng 9/2011, TAND TP Đà Nẵng hòa giải không thành và phải ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án để chờ giám định bản vẽ. Tuy nhiên, Bản giám định kèm công văn số 22/CV-LHH ngày 29/03/2012 của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật TP Đà Nẵng đưa ra kết quả chung chung, khiến vụ việc tiếp tục bế tắc.
    • Nguyên nhân ít khởi kiện ra Tòa: Tâm lý e ngại tai tiếng công khai nơi Tòa án; hiện tượng "hành chính hóa" các quan hệ dân sự (chủ thể chọn khiếu nại hành chính để xử lý nhanh); và năng lực chuyên môn về SHTT của Thẩm phán, cán bộ Tòa án còn hạn chế.
  • Các giải pháp kiến nghị:

    1. Ban hành quy định hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với từng đối tượng quyền tác giả;
    2. Sửa đổi quy định về bồi thường thiệt hại trong Luật SHTT (thu hẹp khoảng cách biên độ bồi thường theo luật định và chuẩn hóa cách tính tổn thất);
    3. Nâng cao năng lực xét xử của đội ngũ Thẩm phán và cán bộ Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ;
    4. Tăng cường tuyên truyền, nâng cao ý thức tôn trọng quyền tác giả của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công chúng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực tế về giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Việt Nam qua các mốc thời gian và quy định định lượng:

Nội dung dữ liệu Số liệu trong văn bản Căn cứ pháp lý / Nguồn dữ liệu
Vụ án quyền tác giả Tòa án thụ lý (7/2006 – 6/2012) 92 vụ Thống kê của TAND tối cao (TS. Nguyễn Hợp Toàn và nhóm tác giả trích dẫn)
Tranh chấp SHTT giải quyết tại Tòa án (2012 – 2016) Gần 200 vụ (trung bình ~50 vụ/năm) Nghiên cứu của TS. Nguyễn Văn Luật (Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 15/2019)
Thời hạn bảo hộ quyền tài sản và quyền công bố Suốt đời tác giả + 50 năm sau khi mất Điều 27 Luật SHTT, Công ước Berne
Mức bồi thường thiệt hại vật chất theo luật định Tối thiểu 5.000.000 đ – Tối đa 500.000.000 đ Điều 205 Luật SHTT
Mức bồi thường tổn thất tinh thần do Tòa ấn định Từ 5.000.000 đ đến 50.000.000 đ Tiểu mục 2 mục I phần B Thông tư liên tịch 02/2008/TTLT
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm quy định 4 tháng (dân sự), 2 tháng (kinh doanh thương mại) Điều 203 BLTTDS 2015
Quy trình giám định tư pháp quyền tác giả 6 bước chuẩn hóa Thông tư 02/2019/TT-BVHTTDL

Về đóng góp học thuật và thực tiễn, tác giả đã:

  • Hệ thống hóa các quy phạm tố tụng và nội dung điều chỉnh quyền tác giả từ Hiệp định TRIPs, BLTTDS 2015, Luật SHTT đến các thông tư hướng dẫn;
  • Chỉ rõ thực trạng "hành chính hóa" các tranh chấp dân sự về bản quyền và sự bế tắc trong công tác giám định chuyên môn dẫn đến việc Tòa án phải tạm đình chỉ vụ án;
  • Xây dựng 4 nhóm giải pháp lập pháp và thực thi tập trung vào việc hoàn thiện quy chuẩn áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và nâng cao năng lực xét xử chuyên sâu của Tòa án.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận xác định rõ những giới hạn trong phạm vi nghiên cứu do tác giả tự giới hạn:

  • Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học mà không bao quát các đối tượng thuộc nhóm quyền liên quan (như cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng);
  • Nội dung nghiên cứu chủ yếu tập trung vào thủ tục tố tụng tư pháp tại Tòa án nhân dân, không đi sâu phân tích toàn diện các chế tài hành chính hoặc cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại quốc tế.

Từ phạm vi này, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát cơ chế bảo vệ quyền liên quan, đánh giá tác động của môi trường kỹ thuật số đối với việc thu thập chứng cứ điện tử, và nghiên cứu tính khả thi của mô hình Tòa án chuyên trách về sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.


Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ dùng làm tài liệu nghiên cứu cấu trúc một vụ kiện bản quyền;
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư tranh tụng tham khảo phần phân tích thẩm quyền theo cấp/loại việc (Điều 35, 36 BLTTDS 2015), nghĩa vụ cung cấp chứng cứ theo Khoản 1 Điều 43 TRIPs và khung định lượng mức bồi thường thiệt hại;
  • Tác giả, kiến trúc sư, nghệ sĩ, doanh nghiệp sáng tạo tham khảo các căn cứ pháp lý để lập hồ sơ khởi kiện và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi quyền tác giả bị xâm phạm.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, cơ chế bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam phát sinh từ thời điểm nào và có bắt buộc phải đăng ký không?
Quyền tác giả phát sinh theo nguyên tắc bảo hộ đương nhiên (bảo hộ tự động) kể từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định. Việc bảo hộ không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ và không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.

2. Quyền nhân thân nào trong nội dung quyền tác giả được phép chuyển giao cho chủ thể khác?
Trong nhóm quyền nhân thân (đặt tên, đứng tên, bảo vệ sự toàn vẹn và công bố tác phẩm), quyền công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm là quyền nhân thân duy nhất gắn liền với quyền tài sản và có thể chuyển giao cho tổ chức, cá nhân khác.

3. TAND cấp huyện hay TAND cấp tỉnh có thẩm quyền thụ lý sơ thẩm vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại về quyền tác giả?
Căn cứ Điều 30 và Điều 36 BLTTDS năm 2015, tất cả các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau mà đều có mục đích lợi nhuận (tranh chấp kinh doanh, thương mại) đều thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.

4. Mức bồi thường thiệt hại vật chất do Tòa án ấn định (theo luật định) và thiệt hại tinh thần được quy định trong khung nào?
Khi nguyên đơn không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại vật chất theo tổn thất thực tế hay giá chuyển giao giả định thì Tòa án ấn định mức bồi thường theo luật định từ 5.000.000 đồng đến tối đa 500.000.000 đồng. Đối với thiệt hại tinh thần do quyền nhân thân bị xâm phạm, Tòa án quyết định mức bồi thường trong giới hạn từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

5. Vụ án tranh chấp bản vẽ thiết kế kiến trúc giữa Công ty CP Làng mộc Văn Hà và Công ty CP tư vấn đầu tư & xây dựng Tường Phát gặp vướng mắc gì tại TAND TP Đà Nẵng?
Sau khi hòa giải không thành vào tháng 9/2011, vụ án đã bị TAND TP Đà Nẵng ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết để chờ kết quả giám định chuyên môn. Tuy nhiên, bản giám định kèm công văn số 22/CV-LHH ngày 29/03/2012 của Liên hiệp các hội Khoa học kỹ thuật TP Đà Nẵng đưa ra kết luận chung chung, dẫn đến việc giải quyết vụ án bị đình trệ kéo dài.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Ngọc Mai đã làm rõ cơ sở lý luận về quyền tác giả và phân định chi tiết thẩm quyền, trình tự tố tụng giải quyết tranh chấp quyền tác giả tại Tòa án nhân dân theo pháp luật Việt Nam. Qua việc phân tích các số liệu thực tế giai đoạn 2006–2016 và vụ án điển hình, tác giả chỉ rõ nguyên nhân số lượng vụ việc khởi kiện ra Tòa án còn thấp xuất phát từ sự kéo dài thời gian tố tụng, khó khăn trong công tác giám định chuyên môn và xác định thiệt hại vật chất. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp khẩn cấp tạm thời và khung bồi thường thiệt hại được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả tư pháp bảo vệ quyền tác giả tại Việt Nam.