Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE TRUYEN THONG GIÁO DỤC SỨC KHỎE TREN SÓNG PHAT THANH - TRUYÈN HÌNH 1. Cơ sở lý luận về truyền thông giáo dục sức khỏe 1.1 Khái niệm truyền thông và truyền thông giáo dục sức khỏe Truyền thông Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau để gia tăng hiểu biết lẫn nhau và hiểu biết về môi trường xung quanh, nhằm thay đôi nhận thức, tiễn tới thay đổi hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, đảm bảo sự phát triển bền vững. Quá trình truyền thông giữa con người với nhau bao giờ cũng diễn ra trong môi trường xã hội, xác định rõ những kinh nghiệm chung giữa người khởi xướng và người tiếp nhận. Dé truyền thông đạt hiệu quả, kinh nghiệm của người khởi xướng và người tiếp nhận có giá trị đặc biệt khi tiến hành.
Thông điệp trong truyền thông phải qua các bước mã hóa, truyền đi, tiếp nhận và giải mã. Mỗi thông điệp truyền từ người khởi xướng đến người tiếp nhận thường bị giảm độ chính xác và cường độ nên phải tìm cách tăng thêm sức mạnh cho thông điệp. Mỗi thông điệp được người tiếp nhận nghiên cứu và chúng ta chỉ biết được sức mạnh, hiệu quả của nó khi người tiếp nhận có thông tin phản hồi. Mục đích của truyền thông Là làm cho người tiếp nhận hiểu được cặn kẽ thông điệp và có những hành động tương tự.
Nói cách khác, người cung cấp, người khởi xướng truyền thông, khi chuyên thông điệp cho người tiếp nhận, mong muốn họ biết được mình muôn thông tin gì, muôn việc làm của mình ảnh hưởng đên thái độ và 10 cách xử sự của người tiếp nhận. Trong quá trình truyền thông cũng gặp nhiều rào chắn cho người khởi xướng thực hiện được mục đích như: Lua tuổi, điều kiện kinh tế xã hội, bất đồng ngôn ngữ, thái độ.Chăng hạn, những người có độ tuổi khác nhau rất khó thông cảm với nhau, những người có chuyên môn khác nhau rất khó truyền thông khi dùng những thuật ngữ kỹ thuật. Biết được đối tượng truyền thông cũng là một yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên hiệu quả trong quá trình truyền thông. Đối tượng của truyền thông là con người, mỗi người có thể trả lời, đáp ứng thông điệp của người khởi xướng tùy theo xu hướng, thái độ, trình độ học vấn, địa vị xã hội của riêng họ.
Chính vì vậy, người làm truyền thông phải đi sâu vào bản chất, nhu cau, nghiên cứu kỹ đối tượng, dùng chính ngôn ngữ của đối tượng để làm giảm bớt những rào chắn ngăn cách xuống mức thấp nhất. Vai trò của truyền thông - Truyền thông giúp trang bị cho người dân nhưng thông tin về các sự việc, quan điểm và thái độ họ cần có dé đưa ra các quyết định về hành vi sức khỏe. Truyền thông diễn ra khi các thông điệp về sức khỏe được truyền đi và thu nhận. Những thông điệp về sức khỏe là những điều quan trọng cần được nhắc cho mọi người trong cộng đồng biết và làm.
Nguồn phát thông tin về sức khỏe có thể từ cán bộ y tế địa phương hoặc trung ương, hay các thành viên trong công đồng nhận ra những nhu cầu cần thay đổi. - Khi thông điệp truyền đến đối tượng mà đối tượng nghe, hiểu thông điệp và tin tưởng vào nó chứng tỏ rằng quá trình truyền thông đã được thực hiện tốt. Quá trình làm thay đổi hành vi rất khó và rat phức tạp, nhưng với các thông điệp được nghe, được hiểu và tin tưởng sẽ mở đường cho việc thay đôi hành vi và sự tham gia của cộng đồng. Hiện nay, có nhiều lý thuyết về quy trình tổ chức truyền thông bao gồm các bước và công đoạn, tác giả xin đề cập mô hình truyền thông của Harold Lasswell.
11 Hoạt động trước khi truyền thông: Hai nhóm người A và B chưa có sự hiểu biết và thông cảm chung. Nhóm người A Nhóm người B Hình 1.1: Mô hình hai nhóm A và B trước khi truyền thông Sau khi truyện thông: Nhóm người A và B có chung một tập hợp những tín hiệu của sự chú ý, quan tâm chung. Sau khi truyền thông, mô hình giữa hai nhóm A và B được biểu thị như sau: Hình 1.2: Mô hình hai nhóm A và B sau khi truyền thông Trong mô hình trên A và B là không gian sống giữa hai nhóm người. Phan chồng lên nhau là môi trường cho “truyền thông” giữa hai nhóm.
Chính nhờ sự giao tiếp này đã tạo nên hiệu quả trong quá trình truyền thông. Quá trình truyền thông: Trong quá trình truyền thông còn phải lưu ý đến các công việc cần thiết như: Mã hóa (Encode) thông điệp bằng các tín hiệu của người cung cấp, người khởi xướng và quá trình giải mã (Decode) của người tiếp nhận dé tiếp nhận thông điệp. Quá trình truyền thông được chia làm 2 giai đoạn theo mô hình sau: 12 Hình 5: Các giai đoạn của quá trình truyền thông Quá trình A: Nguồn (Source) có thé là một tổ chức, một co quan chuyền thông điệp cho đối tượng. Thông điệp chứa đựng những thông tin mã hóa (Encode) thông qua việc tìm tòi một hệ thống tín hiệu ngôn ngữ học nào đó để diễn đạt nội dung thông điệp.
Thông điệp (Message) là những thông tin thật sự được chuyên theo một mạch truyền (Kênh) này hay kênh khác đến đối tượng. Quá trình B: Giải mã (Decode) là quá trình từng cá nhân, bằng con đường riêng của mình, làm rõ ràng, rành mạch thông điệp được chuyền đến. Mỗi thông điệp được chuyền đến có thể được chấp nhận và hiểu biết theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào kiến thức, thái độ của người tiếp nhận và cũng tùy thuộc vào người cung cấp và nội dung thông điệp. Nơi nhận (Destination), người nhận (Receiver) là điểm cuối cùng giải mã thông điệp, có quá trình và sự tích lũy của người tiếp nhận.
Phản hồi (Feedback) là dòng chảy thông tin mà những bước đi từ thông tin gốc đến các nơi tiếp nhận và ngược lại. Lập kế hoạch truyền thông Việc lập kế hoạch truyền thông giúp cho các hoạt động truyền thông, trước khi thực hiện, xác định rõ ràng về mục tiêu, phương hướng, nội dung, phương pháp và hình thức tô chức. Các hoạt động truyền thông sẽ được tiến hành thuận tiện và đem lại kết quả tập trung hơn nếu có sự thống nhất của các yếu tố này ngay từ khi chuẩn bị cho đến khi kết thúc. Truyền thông là một quá trình gan kết chặt chẽ các bước nhằm dat được sự thay đổi về nhận thức, thái 13 độ hành vi của đối tượng.
Thông qua kế hoạch, chúng ta có thể tính toán, lựa chọn, sắp xếp các hoạt động theo một trình tự nhất định nhằm tác động phù hợp và từng bước vào các nhóm đối tượng cụ thể. Việc xây dựng kế hoạch truyền thông cho phép người quan lý truyền thông có thé huy động được ở mức cao hơn các nguồn lực, phối hợp các hoạt động nhăm đạt được kết quả ở mức độ cao nhất có thể. Kế hoạch truyền thông không chỉ định hướng cho các hoạt động truyền thông mà là cơ sở dé tiến hành các hoạt động giám sát, đánh giá kết quả truyền thông. Tùy thuộc vào quy mô, tính chất của quá trình truyền thông cũng như điều kiện và khả năng thực hiện, người làm công tác truyền thông lập kế hoạch truyền thông ở các cấp độ khác nhau, xây dựng chương trình truyền thông hướng vào một nhóm đối tượng trong một khoảng thời gian cụ thể đã xác định.
- Các bước lập kế hoạch truyền thông + Phân tích thực trang dé xác định van đề truyền thông cần can thiệp; + Xác định, phân tích đối tượng và xây dựng mục tiêu; + Sắp xếp các hoạt động theo trình tự thời gian và lịch trình các hoạt động; + Quyết định phương án huy động, sử dụng các nguồn lực truyền thông: - Các kỹ năng cơ bản trong lập kế hoạch truyền thông: + Phân tích thực trạng; + Xác định và phân tích công chúng, đối tượng can thiệp; + Xác định mục tiêu; + Xác định các hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu, xây dựng chỉ SỐ đánh giá; + Thiết kế thông điệp và lựa chọn kênh truyền thông; + Phân bồ thời gian và lịch trình hoạt động; + Quyết định phương án huy động, sử dụng và tối đa hóa nguồn lực; + Quản trị kế hoạch truyền thông; 14 Có thé nói, bản chất chương trình truyền thông là sự thiết kế chuỗi thông điệp một cách chiến lược và can thận, truyền tải tới nhiều nhóm công chúng mục tiêu nhằm ứng phó với những tình huống tích cực hoặc tiêu cực có ảnh hưởng tới tô chức. Thông điệp chính là nội dung, mục đích và hiệu quả của quá trình thực hiện chương trình truyền thông mà tô chức đó muốn truyền tải tới công chúng. Áp dụng quy trình trên ta có thể thấy, để đạt được thành công, chương trình truyền thông GDSK trên sóng phát PT-TH do Trung tâm Truyền thông Giáo dục sức khỏe — Sở Y tế Cà Mau thực hiện cũng dựa trên nên tảng lý thuyết, kỹ năng và quy trình tổ chức đó. Đây là chương trình ra đời do nhu cầu của xã hội, nhằm giải quyết một vấn đề đặc biệt cấp thiết với những mục tiêu rõ ràng, nhằm tạo ra một cơ sở tiền đề để tiếp tục duy trì và phát triển những thành quả đã đạt được.
Trong cuốn “Quan hệ công chúng lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền [3,tr 200], trong quy trình hoạt động quan hệ công chúng gồm 6 bước: Nghiên cứu và phân tích - Hình thành chính sách — Lập kế hoạch — Truyền thông — Phản hồi — Đánh giá và điều chỉnh chương trình. Trong đó, truyền thông là bước thứ ba trong quy trình hoạt động trong quan hệ công chúng. Mục dich của truyền thông là dé thông báo, thuyết phục, thúc đây động cơ, hoặc đạt được hiểu biết lẫn nhau. Dé trở thành một nhân viên truyền thông làm việc có hiệu quả, một người phải có kiến thức về các yếu tố của truyền thông và con người tiếp nhận thông điệp như thế nảo, con người xử lý thông tin và thay đổi nhận thức như thế nào, loại hình truyền thông va phương tiện thông tin đại chúng nào thích hợp nhất cho một loại thông điệp cụ thé.
Truyền thông GDSK mục đích, có kế hoạch đến suy nghĩ và tình cảm của con người, nhằm nâng cao kiến thức, đạt được thái độ tích cực và thực hành hành vi sức khỏe lành 15 mạnh để bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho các cá nhân, gia đình và cộng đồng.