Chương I của Luật báo chí năm 2016 thì Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh được truyén dan trên môi trường mang, bao gôm báo điện tử và tạp chí điện tử. Bao Dang địa phương Báo Đảng địa phương là cơ quan ngôn luận của Đảng, tiếng nói của Đảng bộ và Nhân dân ở địa phương. Thông tin, tuyên truyền về đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Đảng bộ, chính quyền địa phương; giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lối sống lành mạnh, truyền thống tốt đẹp, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bang, dan chu, van minh. Tham gia phát động và tổ chức các phong trào thi đua yêu nước, phat hiện, nêu gương các tập thé, cá nhân điển hình tiên tiến.
Tham gia tông kết thực tiễn, đút kết và phổ biến kinh nghiệm, góp phần bổ sung, hoàn thiện quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và quy định của địa phương; đưa đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Tổ chức tiếp nhận, xử lý, đăng tải thông tin kịp thời, chính xác; thực hiện chức năng là Diễn đàn của Nhân dân theo quy định của pháp luật; góp phần xây dựng Đảng bộ và các tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương vững mạnh. Chủ động đấu tranh kiên quyết, sắc bén với những âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ chủ nghĩa Mác — Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tích cực giám sát, phát hiện, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các biểu hiện tiêu cực, góp phần định hướng tư tưởng và dư luận xã hội.5 Biến đối khí hậu: Theo cuốn sách “Ứng phó với BĐKH Việt Nam” (2017), Ủy Ban khoa học, công nghệ và môi trường, Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của hệ thống khí hậu gồm khí quyền, thuỷ quyên, sinh quyền, thạch quyền hiện tại và trong 18 tương lai bởi các nguyên nhân tự nhiên và nhân tạo trong một giai đoạn nhất định được tính bằng thập ky hay hàng triệu năm.
Sự biển đổi có thế là thay đổi thời tiết bình quân hay thay đổi sự phân bồ các sự kiện thời tiết quanh một mức trung bình. BĐKH có thể giới hạn trong một vùng nhất định hay có thế xuất hiện trên toàn Địa Cầu. Ví dụ: ấm lên, lạnh đi. hay sự biến động của khí hậu dài hạn sẽ dẫn tới BĐKH.
BDKH sẽ có tác động hết sức lớn đến sự sống cũng như hoạt động của con người. Trong những năm gần đây, đặc biệt trong ngữ cảnh chính sách môi trường, biến đôi khí hậu thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung băng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm biến đổi khí hậu Trái Dat là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bê hap thụ và bề chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.6 Sạt lở Sat lở là hiện tượng mat 6n định và chuyền dịch khối dat, đá tự nhiên của bờ sông, bờ biển, đảo do tác động của các yếu tố chan động địa chất, mưa lớn, dòng chảy, sóng, biến đổi mực nước và các biến đổi khác. Riêng đối với khu vực ĐBSCL những năm gần đây tác động của biến đổi khí hậu gây sạt lở bờ sông, bờ biển đang ngày càng nghiêm trọng.
Theo thống kê mới nhất của Cục phòng chống thiên tai (4/2019), khu vực ĐBSCL hiện nay có 526 khu vực sat lở bờ sông, bờ biển, với tong chiều dài gần 800 km. Trong đó, 57 khu sat lở đặc biệt nguy hiểm với tổng chiều dai 164 km cần được xử lý dé đảm bảo ổn định dân sinh, kinh tế xã hội ven sông ven biển. Sat lở đã uy hiếp trực tiếp đến tính mạng, tài sản của nhân dân, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn các công trình phòng chống thiên tai và cơ sở hạ tầng vùng ven biển và làm suy thoái rừng ngập mặn ven biên.7 Xam nhập man Xam nhập mặn là qua trình thay thế nước ngọt trong các tầng chứa nước ở ven biên băng nước mặn do sự dịch chuyên của khôi nước mặn vào 19 tầng nước ngọt. Xâm nhập mặn làm giảm nguồn nước ngọt dudi lòng đất ở các tầng chứa nước ven bién do cả hai quá trình tự nhiên và con người gây ra.
Theo Tổng cục thuỷ lợi, Bộ NN&PTNT, kết quả của nhiều nghiên cứu xâm nhập mặn vùng ĐBSCL từ 1980 đến nay cho thấy chiều dài xâm nhập mặn vào cửa sông phụ thuộc chặt chẽ bởi 6 yếu tố là (1) Dòng chảy kiệt từ thượng nguồn sông Mekong; (2) Khả năng trữ nước cuối mùa lũ của vùng ĐBSCL; (3) Diễn biến mực nước ven biển; (4) Tình trạng sử dụng nước ở ĐBSCL; (5) Hình dạng lòng sông vùng cửa và (6) Diễn biến mưa đầu mùa mưa. “Gió chướng” cũng là một trong những nguyên nhân day mặn lên cao hơn, song hiện tượng này chỉ mang tính “tình thế” nên chỉ được xem xét trong từng trường hợp cụ thê. Theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: Xâm nhập mặn là hiện tượng nước mặn với nồng độ mặn bang 4%o xâm nhập sâu vào nội đồng khi xảy ra triều cường, nước biển dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Xâm nhập mặn là vấn đề nghiêm trọng đối với nhiều chính quyền địa phương, vấn đề này đã được nỗ lực giải quyết trong bối cảnh đang diễn ra biến đổi khí hậu như nước biển dâng, tăng nhiệt độ, khai thác nước ngầm quá mức dé đáp ứng nhu cầu nước cho phát triển, những nguyên nhân này đang làm tăng nguy cơ xâm nhập mặn.2 Quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về sạt lở, xâm nhập mặn 12.1 Quan điểm của Đảng về về sat lở, xâm nhập mặn Theo PGS.TS Dinh Văn Hường — TS.
Nguyễn Minh Trường, [20, tr.25- 36], hậu quả tác động của BDKH (trong đó có sat lở, xâm nhập mặn) đối với kinh tế - xã hội và môi trường chưa thé lường hết được, song chắc chắn nó luôn là nguy cơ hiện hữu tác động xấu và kìm hãm đối với mục tiêu xóa đói, giảm nghéo; là nguy cơ tiềm ẩn, tiềm tàng đối với sự phát triển bền vững, cũng như việc thực hiện các mục tiêu phat triên thiên niên ky, vì thực tê trên 20 thế giới đã cho thấy có hàng trăm triệu người có thể phải lâm vào nạn đói, thiếu nước và lụt lội tai vùng ven biển do trái đất nóng lên và nước biên dâng. Báo cáo mới nhất của ủy ban liên chính phủ về BDKH (EPCC) cho rằng: Trong vòng 100 năm qua, nhiệt độ của Trái dat đã tăng lên 0,8°c so với giai đoạn trước; mực nước biển đã dâng cao 20 cm và BDKH đã làm giảm tăng trưởng kinh tế hàng năm khoảng 0,5% GDP toàn cầu. Do đó, giờ đây BĐKH không chỉ là vấn đề môi trường, hay trách nhiệm thuộc về một ngành riêng lẻ nào, mà tất cả chúng ta, ai cũng có trách nhiệm đối với sự phát triển bền vững của đất nước nói riêng và của toàn cầu nói chung. Vì thế, việc tìm giải pháp dé thích ứng với tình trạng BĐKH ngày càng trở nên hết sức cấp bách, được quan tâm nhiều hơn trong các nghiên cứu và trong cả tiến trình thương lượng của công ước khung của Liên hiệp quốc (LHQ) về BĐKH.
Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12/1986) hầu như chưa dé cập đến van dé này (BDKH), mà chỉ nói chung trong phát triển kinh té- xã hội gắn vói môi trường tự nhiên hài hoà, hợp lý. Đến Đại hội VIII (tháng 6/1996) thì van dé bảo vệ môi trường nói chung và phòng, chống, giảm thiểu BDKH nói riêng đã được dé cập. Văn kiện Đại hội chỉ rõ "tăng trưởng kinh tế găn với cải thiện đời sông nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện tiến bộ, công bang xã hội va bao vệ môi trường. Và cụ thé hơn, Đại hội nhắn mạnh "ngăn chặn và giảm 6 nhiễm môi trường ở thành phố, khu công nghiệp".
Như vậy vấn đề bảo vệ môi trường đã trở nên cấp thiết vì đây là vấn đề lớn, chung, bao trùm, tác động và ảnh hưởng trực tiếp đến con người, tự nhiên và xã hội. Còn mức độ BĐKH chưa quá cấp bách thời điểm đó nên được đề cập còn chung chung hoặc khá mờ nhạt. Đến Đại hội XI (tháng 1/2011) mục V trong báo cáo chính tri về phát triển giáo dục - đảo tạo, khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức, bảo vệ môi 21 trường, trong đó, báo cáo đã nêu rõ "coi trọng bảo vệ môi trường, chủ động phòng, chống thiên tai và ứng phó với BĐKH". Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo tác động của BDKH đối với nước ta; thực hiện có hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH; tích cực tham gia, phối họp cùng cộng đồng quốc tế hạn chế tác động tiêu cực của BĐKH; bảo vệ hệ thông khí hậu trái đất; tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng hệ thông dự báo, cảnh báo thiên tai; đầy mạnh công tác tuyên truyền nâng cao ý thức phòng, chống thiên tai trong mỗi người dân, nhất là nhân dân vùng thường xảy ra thiên tai.
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 đã được thông qua tại Đại hội cũng khẳng định "bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, chủ động ứng phó có hiệu quả với BĐKH, phòng chống thiên tai và chương trình mục tiêu quốic gia về ứng phó với BĐKH, nhất là nước biển dang; tăng cường hợp tác quốc tế dé phối hợp hành động và tranh thủ sự giúp đỡ của cộng đồng quốc tế", Văn kiện Đại hội cũng nhấn mạnh "nâng cao ý thức bảo vệ môi trường, gắn kết nhiệm vụ, mục tiêu bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới cơ chế quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực vùng và các chương trình, dự án. Các dự án đầu tư xây dựng mới phải đảm bảo yêu cầu về môi trường.
Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường.