Mở đầu 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2. TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2. Khái niệm và một số biểu hiện của BĐKH toàn cầu Theo định nghĩa của Công ước Khí hậu, BĐKH là sự thay đổi khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được. BĐKH xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu.
Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ. Trong lịch sử hàng triệu năm trở lại đây, trái đất đã trải qua những thời kỳ băng hà rét lạnh và những thời kỳ ấm lên với chu kỳ khoảng 100.000 năm cho đến khoảng 10.500 năm, trái đất vẫn lạnh hơn hiện tại khoảng 50C [4]. Một số biểu hiện của BĐKH toàn cầu quan trắc được trong 150 năm vừa qua: Biến đổi của nhiệt độ: Trong thế kỷ 20, trên khắp các châu lục và đại dương, nhiệt độ có xu hướng tăng lên rõ rệt. Độ lệch tiêu chuẩn của nhiệt độ trung bình toàn cầu là 0,240C; sai khác lớn nhất giữa 2 năm liên tiếp là 0,290C (giữa năm 1976 và năm 1977), tốc độ của xu thế biến động nhiệt độ cả thế kỷ là 0,750C [4], nhanh hơn bất kỳ thế kỷ nào trong lịch sử, kể từ thế kỷ 11 đến nay.
Giai đoạn 1995-2006 có 11 năm (trừ năm 1996) được xếp vào danh sách 12 năm nhiệt độ cao nhất trong lịch sử quan trắc nhiệt độ kể từ năm 1850. Riêng 5 năm 2001-2005 có nhiệt độ trung bình cao hơn 0,440C so với chuẩn trung bình của thời kỳ 1961-1990. Biến đổi của lượng mưa: Trong thời kỳ 1901-2005, xu thế biến đổi của lượng mưa rất khác nhau giữa các khu vực và giữa các tiểu khu vực trên cùng khu vực và giữa các thời điểm khác nhau trên từng tiểu khu vực [4]. Điều này dẫn đến tình trạng có nơi lượng mưa tăng cao và có những nơi lượng mưa lại giảm.
Chương 2: Tổng quan 7 Hạn hán và dòng chảy: Chính những biến đổi nhiệt độ và lượng mưa dẫn đến các biến đổi dòng chảy: dòng chảy giảm ở các vùng vĩ độ cao, vĩ độ trung bình, nhiệt đới và nhiệt đới ẩm ướt do lượng mưa giảm và cường độ bốc hơi tăng lên. Diện tích các vùng hạn hán tăng, tác động đến nhiều lĩnh vực có liên quan: nông nghiệp, cung cấp nước, sản xuất điện, sức khỏe. Ở Bắc bán cầu, xu thế hạn hán phổ biến từ giữa thập kỷ 1950 trên phần lớn vùng Bắc Phi (đặc biệt là Sahel, Canada và Alaska). Ở bán cầu Nam, hạn hán rõ rệt trong những năm từ 1974-1998.
Dòng chảy có xu hướng tăng lên trên nhiều lưu vực sông thuộc nước Mĩ và Xibiri, song lại giảm đi ở lưu vực sông các nơi khác (Canada, Hoàng Hà, Niger, Senegal, Dambia,…). Nhìn chung, dòng chảy giảm 10- 40% ở các vùng vĩ độ cao và nhiệt đới ẩm ướt và giảm 10-30% ở các khu vực khô ráo vĩ độ trung bình và nhiệt đới [4]. Biến đổi của xoáy thuận nhiệt đới: Xu thế tăng cường độ xoáy thuận nhiệt đới rõ rệt nhất ở Bắc Thái Bình Dương, Tây Nam Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Biến đổi nhiệt độ ở các vùng cực và băng quyển: Cùng với sự tăng nhiệt độ mặt đất của thế kỷ 20 thì có sự suy giảm khối lượng băng trên phạm vi toàn cầu.
Các kịch bản biến đổi khí hậu BĐKH hiện nay cũng như trong thế kỷ 21 phụ thuộc chủ yếu vào mức độ phát thải khí nhà kính (cũng chính là sự phát triển kinh tế - xã hội). Vì vậy, các kịch bản BĐKH được xây dựng dựa trên các kịch bản phát triển kinh tế - xã hội toàn cầu. Năm 2000, Báo cáo đặc biệt về các kịch bản phát thải (Special Report on Emissions Scenarios-SRES) được Tổ chức Liên Chính phủ về BĐKH (IPCC) soạn thảo để phục vụ cho Báo cáo đánh giá lần thứ ba (AR3). Trong đó, IPCC đã đưa ra 40 kịch bản [5], phản ánh khá đa dạng khả năng phát thải khí nhà kính thế kỷ 21.
Các kịch bản phát thải này sau đó được dùng để chạy các mô hình hoàn lưu toàn cầu (Global Circulation Models – GCMs) nhằm xây dựng nên các kịch bản BĐKH. Nhìn chung, cho đến thời điểm hiện tại, các kịch bản BĐKH toàn cầu và cho quy mô địa phương đều được xây dựng dựa trên các kịch bản phát thải SRES. Chương 2: Tổng quan 8 Các kịch bản phát thải SRES được tổ hợp thành bốn kịch bản gốc là A1, A2, B1, B2 với các đặc điểm chính sau: Kịch bản gốc A1: Kinh tế thế giới phát triển nhanh; dân số thế giới tăng đạt đỉnh vào năm 2050 và sau đó giảm dần; truyền bá nhanh chóng và hiệu quả các công nghệ mới; thế giới có sự tương đồng về thu nhập và cách sống, có sự tương đồng giữa các khu vực, giao lưu mạnh mẽ về văn hoá và xã hội toàn cầu. Họ kịch bản A1 được chia thành ba nhóm dựa theo mức độ phát triển công nghệ: • A1FI: Tiếp tục sử dụng thái quá nhiên liệu hóa thạch (kịch bản phát thải cao); • A1B: Có sự cân bằng giữa các nguồn năng lượng (kịch bản phát thải trung bình); • A1T: Chú trọng đến việc sử dụng các nguồn năng lượng phi hoá thạch (kịch bản phát thải thấp).
Kịch bản gốc A2: Thế giới không đồng nhất, các quốc gia hoạt động độc lập, tự cung tự cấp; dân số tiếp tục tăng trong thế kỷ 21; kinh tế phát triển theo định hướng khu vực; thay đổi về công nghệ và tốc độ tăng trưởng kinh tế tính theo đầu người chậm (kịch bản phát thải cao, tương ứng với A1FI). Kịch bản gốc B1: Kinh tế phát triển nhanh giống như A1 nhưng có sự thay đổi nhanh chóng theo hướng kinh tế dịch vụ và thông tin; dân số tăng đạt đỉnh vào năm 2050 và sau đó giảm dần; giảm cường độ tiêu hao nguyên vật liệu, các công nghệ sạch và sử dụng hiệu quả tài nguyên được phát triển; chú trọng đến các giải pháp toàn cầu về ổn định kinh tế, xã hội và môi trường (kịch bản phát thải thấp tương tự như A1T). Kịch bản gốc B2: Dân số tăng liên tục nhưng với tốc độ thấp hơn A2; chú trọng đến các giải pháp địa phương thay vì toàn cầu về ổn định kinh tế, xã hội và môi trường; mức độ phát triển kinh tế trung bình; thay đổi công nghệ chậm hơn và manh mún hơn so với B1 và A1 (kịch bản phát thải trung bình, được xếp cùng nhóm với A1B). Chương 2: Tổng quan 9 Song song với việc công bố các kịch bản trên thì IPCC cũng khuyến cáo sử dụng các kịch bản phát thải được sắp xếp từ thấp đến cao là B1, A1T (kịch bản thấp), B2, A1B (kịch bản trung bình), A2, A1FI (kịch bản cao).
Ngày 27/9/2013, IPCC đã công bố Báo cáo đánh giá lần thứ năm (AR5- WG1) về BĐKH toàn cầu. Trong báo cáo AR5-WG1, thuật ngữ RCPs (Representative Concentration Pathways) được sử dụng để diễn tả các kịch bản phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, được hiểu là các con đường phát triển kinh tế - xã hội đưa đến việc trái đất tích tụ các nồng độ khí nhà kính khác nhau và nhận được lượng bức xạ nhiệt tương ứng. Có bốn RCPs được mô tả để dự đoán khí hậu trái đất trong tương lai đến năm 2100.6 là nhóm kịch bản phát triển thuộc loại thấp, nhiệt lượng bức xạ mặt đất nhận ít hơn 3 Watt/m2 (W/m2).5 là nhóm kịch bản thuộc loại cao mà bức xạ mặt đất nhận được sẽ lớn hơn 8,5 W/m2 và tiếp tục tăng sau kỳ dự đoán.5 là hai nhóm kịch bản ổn định trung gian, trong đó cưỡng bức bức xạ được ổn định ở mức khoảng 6 W/m2 và 4,5 W/m2. Nồng độ khí nhà kính quy đổi thành khí CO2 cho từng RCP là: 475 ppm cho RCP2.6; 630 ppm cho RCP4.5; 800 ppm cho RCP 6.313 ppm cho RCP8.
Đối với Việt Nam đến thời điểm hiện tại, các kịch bản phát thải khí nhà kính được chọn để tính toán xây dựng kịch bản BĐKH vẫn dựa trên kịch bản phát thải SRES, gồm: kịch bản phát thải thấp (B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), kịch bản phát thải cao (A2, A1FI) [6]. Năm 2009, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã công bố kịch bản BĐKH, nước biển dâng cho Việt Nam. Sau đó, kịch bản này tiếp tục được cập nhật vào năm 2012. Các phương pháp được dùng để xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam bao gồm: - Phương pháp chi tiết hóa thống kê được dùng để tính toán cho kịch bản nhiệt độ, lượng mưa trung bình mùa, năm đối với các kịch bản thấp, trung bình và cao [7].
- Mô hình ACGM/MRI được dùng để tính toán cho kịch bản nhiệt độ, lượng mưa trung bình mùa, năm đối với kịch bản trung bình [7]. - Mô hình PRECIS được dùng để tính toán cho kịch bản nhiệt độ, lượng mưa trung bình mùa, năm và cực trị đối với kịch bản trung bình [7]. Chương 2: Tổng quan 10 - Các phần mềm SDSM, SimCLIM được dùng để tham khảo. Thời kỳ 1980-1999 được chọn là thời kỳ cơ sở để so sánh sự thay đổi của khí hậu và nước biển dâng.
Dự báo tác động của BĐKH đến các khu vực trên thế giới 2. Châu Phi Vào năm 2020, khoảng từ 75 - 250 triệu người sẽ phải chịu áp lực lớn về nước do BĐKH [8]. Khu vực thích hợp với sản xuất nông nghiệp bị thu hẹp, rút ngắn độ dài sinh trưởng, giảm năng suất cây trồng, đặc biệt ở các khu vực bán khô hạn, khô hạn,… đe dọa an ninh lương thực và dinh dưỡng. Các hệ sinh thái phải trải qua những thay đổi về giống loài hoặc dịch chuyển khu vực thích nghi.
Châu Á Nguồn nước ngọt ở Trung Á, Nam Á, Đông Nam Á, đặc biệt ở các châu thổ lớn giảm đi trong mùa khô. Cùng với sự tăng trưởng dân số và nhu cầu sinh hoạt, điều này tác động tiêu cực đến hơn 1 tỷ người vào năm 2050 [8]. Gia tăng ngập lụt trên các khu vực bờ biển tập trung cao độ dân cư ở Nam Á, Đông Á, Đông Nam Á. Năng suất lương thực giảm 30% ở Trung Á, Nam Á vào giữa thế kỷ 21 [8].
Úc và New Zealand Vấn đề an ninh nguồn nước trở nên căng thẳng hơn từ năm 2030, đa dạng sinh học bị tổn thất, năng suất nông nghiệp và sản phẩm lâm nghiệp giảm. Châu Âu Mở rộng sự phân hóa về tài nguyên thiên nhiên và của cải vật chất.