Tổng quan về luận án
Nghiên cứu về an sinh xã hội (ASXH) tại các địa bàn miền núi, biên giới giữ vị trí chiến lược đặc biệt trong cấu trúc phát triển bền vững và ổn định an ninh chính trị quốc gia. Luận án tiến sĩ lịch sử với đề tài "Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thắm thực hiện (chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, mã số 9.13, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, năm 2020 dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Quang Hải) là công trình khoa học đầu tiên phục dựng một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu tiến trình 10 năm thực thi chính sách ASXH tại tỉnh Điện Biên kể từ mốc lịch sử chia tách từ tỉnh Lai Châu theo Nghị quyết của Quốc hội khóa X ngày 26/11/2003.
Điện Biên là địa bàn có tính chất "địa chính trị" then chốt với hơn 400 km đường biên giới giáp Lào và Trung Quốc, nhưng đồng thời là tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội (KT-XH) đặc biệt khó khăn. Dân số toàn tỉnh tăng từ 423.100 người (2004) lên 564.300 người (2017), trong đó đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) chiếm tới 85%, tỷ lệ tăng tự nhiên dân số bình quân đạt 17,56‰. Địa hình chia cắt sâu bởi các đứt gãy kiến tạo Lai Châu - Điện Biên tạo ra nguy cơ lũ quét, sạt lở đất thường xuyên trên tổng diện tích tự nhiên 9.560 km² (trong đó đất nông - lâm nghiệp chiếm 79,31% với 629.806,26 ha đất đỏ vàng và 12.622,13 ha đất phù sa thung lũng Mường Thanh).
Khoảng trống học thuật (research gap) lớn nhất được xác định là: Trước công trình này, chưa có bất kỳ nghiên cứu lịch sử chuyên khảo nào đánh giá tích hợp, đa chiều và định lượng toàn diện quá trình thực hiện chính sách ASXH tại một tỉnh biên giới Tây Bắc giai đoạn 2004 - 2014 theo cấu trúc 6 trụ cột. Các công trình trước đó chỉ dừng lại ở các bài báo đơn lẻ, các báo cáo ngành cục bộ hoặc phân tích thuần túy kinh tế học mà thiếu đi chiều sâu lịch sử - chính trị.
Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Những yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội và chủ trương chính trị nào đã quy định cấu trúc và lộ trình thực thi ASXH tại Điện Biên sau khi chia tách tỉnh?
- Quá trình triển khai 6 trụ cột ASXH (xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, ưu đãi người có công, bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội, dịch vụ xã hội cơ bản) đã diễn ra như thế nào qua từng giai đoạn lịch sử cụ thể?
- Những thành tựu đột phá, hạn chế nội tại và nguyên nhân căn bản trong quản trị ASXH tại địa phương nghèo nhất cả nước là gì?
- Những bài học kinh nghiệm lịch sử nào có giá trị phổ quát cho công tác hoạch định chính sách an sinh vùng DTTS và miền núi biên giới?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự giao thoa giữa Lý luận Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 15-NQ/TW (Khóa XI) và Khung quản trị rủi ro xã hội (Social Risk Management) chuẩn mực quốc tế, mang lại giá trị thực tiễn to lớn cho công tác quản trị công tại khu vực Tây Bắc.
Literature Review và Positioning
Tổng quan tài liệu quốc tế cho thấy lý thuyết ASXH đã trải qua tiến trình tiến hóa mạnh mẽ. Mốc lịch sử đầu tiên được xác lập bởi Đạo luật An sinh Xã hội Hoa Kỳ năm 1935 (Social Security Act 1935), mở đường cho việc pháp điển hóa quyền an sinh. J. Henry Richardson (1960) trong Economic and Financial Aspects of Social Security đã đặt nền móng lý thuyết tài chính công cho ASXH trong xã hội công nghiệp. Ehtisham Ahmad, Jean Drèze, John Hills và Amartya Sen (1991) với tác phẩm kinh điển Social Security in Developing Countries đã tạo bước ngoặt học thuật khi chứng minh rằng ở các quốc gia đang phát triển, ASXH không thể đồng nhất với bảo hiểm thu nhập kiểu phương Tây mà bản chất là xóa đói giảm nghèo và bảo đảm năng lực sinh tồn cơ bản. Martin Feldstein (2005) trên tạp chí Economic Perspectives thúc đẩy các tranh luận về cải cách cơ cấu và tư nhân hóa một phần quỹ hưu trí. Tại châu Á, các công trình của Đặng Đại Tùng (2007) và Đặng Công Thành (2008) phân tích mô hình ASXH nông thôn mang đặc sắc Trung Quốc cho hơn 1 tỷ dân; Đinh Công Tuấn và Đinh Công Hoàng (2013) nghiên cứu mô hình phúc lợi Bắc Âu; Nguyễn Duy Dũng (2015) so sánh kinh nghiệm giải quyết ASXH của Thái Lan, Malaysia và Philippines.
Tại Việt Nam, các nhà khoa học đã xây dựng cơ sở lý luận vững chắc về ASXH trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiêu biểu là Phùng Hữu Phú, Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Hiền, Nguyễn Viết Thông (2016); Đinh Thế Huynh et al. (2015); Mai Ngọc Cường (2009) với mô hình 3 hợp phần: phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro; Phan Thị Kim Oanh (2014) và Mai Ngọc Anh (2009) nghiên cứu ASXH cho nông dân; Nguyễn Mai Phương (2014) và Nguyễn Văn Tuân (2015) tiếp cận lịch sử Đảng lãnh đạo thực hiện ASXH. Tại địa bàn Tây Bắc và Điện Biên, các nghiên cứu của Phạm Thành Nghị et al. (2010), Báo cáo đánh giá nghèo của Ngân hàng Thế giới (2015) và Nguyễn Thị Lan Hương et al. (2015) đã bước đầu khảo sát thực trạng giảm nghèo và sinh kế DTTS.
Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai quan điểm:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng ASXH phải vận hành nghiêm ngặt theo nguyên tắc đóng - hưởng thị trường nhằm bảo toàn quỹ tài chính;
- Quan điểm thứ hai (chủ lưu tại các nước đang phát triển) khẳng định tại các vùng lõi nghèo DTTS, Nhà nước phải đóng vai trò chủ đạo thông qua cơ chế phân phối lại, trợ cấp phi đóng góp và bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản tối thiểu.
Luận án của Nguyễn Thị Thắm định vị chính xác tại điểm giao thoa này: Nghiên cứu không chỉ tiếp cận Điện Biên như một đơn vị hành chính thụ hưởng chính sách thụ động, mà phân tích quá trình địa phương hóa, cụ thể hóa các quyết sách trung ương vào thực tiễn một tỉnh biên giới đặc thù, chứng minh tính thích ứng của mô hình an sinh đa tầng trong bối cảnh phân tầng xã hội sâu sắc.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng lý luận về ASXH trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam bằng việc làm sáng tỏ cơ chế tương tác biện chứng giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội tại địa bàn kém phát triển. Công trình làm giàu thêm học thuyết Quản trị rủi ro xã hội thông qua việc chứng minh rằng: Ở vùng đồng bào DTTS, "lưới an toàn xã hội" (social safety net) không thể chỉ dừng lại ở các khoản bù đắp thu nhập tạm thời, mà phải nâng đỡ toàn diện năng lực tự cường (capability approach) của cộng đồng bản địa trước các cú sốc tự nhiên và kinh tế.
Đặc biệt, luận án đã lý giải sâu sắc tính ưu việt của cấu phần đặc thù Việt Nam: Trụ cột "Ưu đãi xã hội đối với người có công với cách mạng". Đây là đóng góp lý thuyết quan trọng khẳng định chính sách xã hội ở Việt Nam không thuần túy là kỹ thuật cứu trợ kinh tế mà mang đậm tính nhân văn, đạo lý truyền thống và là công cụ củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững an ninh biên giới quốc gia.
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của 3 khung lý thuyết nền tảng:
- Lý luận Hình thái kinh tế - xã hội Mác - Lênin: Xem xét ASXH như một phương thức điều tiết quan hệ phân phối nhằm bảo đảm công bằng xã hội;
- Khung Quản lý Rủi ro Xã hội của WB & ILO: Phân loại chính sách theo 3 cấp độ: Phòng ngừa rủi ro (giáo dục, việc làm), Giảm thiểu rủi ro (BHXH, BHYT, BHTN) và Khắc phục rủi ro (Bảo trợ xã hội, cứu trợ thiên tai);
- Tư tưởng Hồ Chí Minh và Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Lấy con người làm trung tâm, đặt chính sách xã hội ngang tầm với chính sách kinh tế.
Mô hình phân tích vận hành trên 6 trụ cột hữu cơ:
- Xóa đói giảm nghèo bền vững;
- Giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập;
- Chính sách ưu đãi đối với người có công;
- Bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp;
- Trợ giúp và bảo trợ xã hội;
- Bảo đảm dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, thông tin).
Điều kiện biên (boundary conditions) của khung phân tích được xác lập chặt chẽ trong không gian địa lý tỉnh Điện Biên (1 thành phố, 1 thị xã, 8 huyện) và biên độ thời gian 10 năm đầu sau chia tách tỉnh (2004 - 2014).
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án quán triệt lập trường bản thể luận và nhận thức luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật lịch sử. Thiết kế nghiên cứu là sự kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp lịch sử (tái hiện tiến trình chính sách theo trật tự thời gian tuyến tính, bối cảnh hóa từng quyết định chính trị) và phương pháp logic (vạch ra bản chất, quy luật vận động nội tại, mối liên hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội).
Đây là nghiên cứu lịch sử chuyên ngành có sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành (interdisciplinary approach) giữa Sử học, Xã hội học, Kinh tế phát triển và Khoa học chính sách công, cho phép mổ xẻ đối tượng nghiên cứu ở cả tầng vĩ mô (chủ trương của Tỉnh ủy, HĐND, UBND) và tầng vi mô (đời sống thực tế của hộ gia đình DTTS).
Quy trình nghiên cứu rigorous
Quy trình thu thập và thẩm định dữ liệu lịch sử được thực hiện nghiêm ngặt qua 3 bước:
- Thu thập nguồn sử liệu sơ cấp (Primary Sources): Khai thác trực tiếp hệ thống văn bản lưu trữ tuyệt đối bảo mật và hành chính tại: Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, Văn phòng Tỉnh ủy Điện Biên, Văn phòng HĐND - UBND tỉnh Điện Biên, Lưu trữ Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Tài chính, Bảo hiểm Xã hội tỉnh Điện Biên, Ban Dân tộc tỉnh, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Điện Biên;
- Điều tra khảo sát thực địa và điền dã (Fieldwork & Deep Interviews): Tiến hành khảo sát thực tế tại các địa bàn vùng cao, biên giới khó khăn (Mường Nhé, Nậm Pồ, Tủa Chùa, Điện Biên Đông); sử dụng phiếu điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu trực tiếp cán bộ lãnh đạo xã, già làng, trưởng bản và người dân thụ hưởng chính sách nhằm thẩm định độ xác thực của tài liệu thành văn;
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Đối soát chéo giữa 3 nguồn: Văn bản chỉ đạo pháp lý - Báo cáo thống kê định lượng của các sở ngành - Trải nghiệm thực tế của người dân vùng thụ hưởng.
Data và phân tích
Cơ sở dữ liệu của luận án bao gồm chuỗi số liệu thứ cấp kéo dài 10 năm (2004 - 2014) và các mốc so sánh mở rộng (1995 - 2004 và 2014 - 2017). Dữ liệu phản ánh các chỉ báo kinh tế vĩ độ cao:
- Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo nguồn thu;
- Chỉ số giảm nghèo qua các năm;
- Quy mô thu - chi và đối tượng tham gia BHXH, BHYT;
- Tỷ lệ kiên cố hóa trường lớp, trạm y tế chuẩn quốc gia;
- Tiếp cận hạ tầng giao thông, điện lưới và nước sinh hoạt nông thôn.
Các kỹ thuật phân tích bao gồm: Thống kê mô tả (descriptive statistics), phân tích so sánh lịch sử (historical comparative analysis) giữa các huyện trong tỉnh và giữa Điện Biên với các tỉnh lân cận trong khu vực Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình), phân tích chỉ số bất bình đẳng thu nhập để rút ra những kết luận khách quan.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án làm sáng tỏ 5 phát hiện mang tính bước ngoặt về bức tranh thực tế của ASXH Điện Biên sau 10 năm thành lập tỉnh:
Thứ nhất, tốc độ giảm nghèo đạt kết quả ấn tượng nhưng tính bền vững thấp và nguy cơ tái nghèo cao. Giai đoạn 2004 - 2014 ghi nhận nỗ lực vượt bậc của toàn hệ thống chính trị, đưa tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh qua từng năm, tuy nhiên đến năm 2014 tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức rất cao là 32,57%. Điện Biên vẫn là tỉnh nghèo nhất cả nước, Chỉ số Năng lực Cạnh tranh Cấp tỉnh (PCI) năm 2014 xếp thứ 63/63 tỉnh, thành phố.
Thứ hai, phát hiện sự gia tăng đáng báo động về khoảng cách phân tầng xã hội và bất bình đẳng thu nhập. Thu nhập bình quân đầu người của tỉnh đạt mức rất thấp: 851.230 đồng/người/tháng (xấp xỉ 10,2 triệu đồng/năm). Mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm 20% giàu nhất và nhóm 20% nghèo nhất ngày càng bị kéo giãn:
- Năm 2010: chênh lệch 6,72 lần;
- Năm 2012: chênh lệch 7,45 lần;
- Năm 2014: chênh lệch tăng lên 8,04 lần.
Thứ ba, sự bứt phá vượt bậc về hạ tầng dịch vụ xã hội cơ bản nhưng bộc lộ sự mất cân đối vùng miền. Đến năm 2015, toàn tỉnh đã đạt được những chỉ số quan trọng: 130/130 xã, phường có đường ô tô đến trung tâm (trong đó 110/130 xã đi lại được 4 mùa quanh năm); 100% xã có trạm y tế; 90,53% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia. Tuy nhiên, bất bình đẳng tiếp cận dịch vụ thể hiện rõ nét ở chỉ tiêu nước sạch: 97,1% hộ dân đô thị được dùng nước sạch nhưng ở khu vực nông thôn, vùng cao tỷ lệ này chỉ đạt 57,25%.
Thứ tư, hạn chế cốt tử trong việc mở rộng diện bao phủ BHXH tự nguyện và BHTN. Do cơ cấu kinh tế thuần nông (nông - lâm nghiệp chiếm 79,31% diện tích đất) và khu vực kinh tế phi chính thức chiếm đại đa số, việc phát triển BHXH tự nguyện gặp trở ngại lớn. Nguồn thu BHXH chủ yếu dựa vào khu vực hành chính công và doanh nghiệp nhà nước; đại bộ phận nông dân DTTS không có khả năng tài chính để tham gia cơ chế đóng - hưởng nếu không có sự trợ cấp từ ngân sách nhà nước.
Thứ năm, thành tựu đặc biệt trong chính sách đền ơn đáp nghĩa và bảo trợ xã hội. Tỉnh đã thực hiện chi trả đầy đủ, kịp thời chế độ ưu đãi cho hàng vạn lượt người có công, cựu chiến binh chiến dịch Điện Biên Phủ, xây dựng hàng ngàn nhà tình nghĩa, góp phần củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân các dân tộc vào Đảng bộ và chính quyền.
"Chính sách xã hội có vai trò đặc biệt quan trọng, là mục tiêu, là động lực để phát triển nhanh và bền vững trong mọi giai đoạn phát triển… không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người có công và đảm bảo ASXH là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị và toàn xã hội."
— (Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI)
Implications đa chiều
- Về lý luận: Cung cấp luận cứ khẳng định tính tất yếu phải chuyển đổi mô hình an sinh từ "cứu trợ thụ động, cho không" sang "an sinh phát triển, trao quyền và tạo sinh kế tự cường" tại các vùng đồng bào DTTS;
- Về phương pháp luận: Thiết lập mô hình đánh giá lịch sử - xã hội học tích hợp 6 trụ cột có thể chuyển giao, ứng dụng cho việc nghiên cứu lịch sử chính sách xã hội tại các tỉnh Tây Bắc khác như Sơn La, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang;
- Về thực tiễn và chính sách: Luận án đề xuất lộ trình cụ thể cho cấp ủy, chính quyền tỉnh Điện Biên:
- Tách bạch chính sách bảo trợ xã hội nhân đạo với chính sách tín dụng hỗ trợ sản xuất;
- Nâng mức hỗ trợ đóng BHYT và BHXH tự nguyện từ ngân sách lên 80 - 100% cho hộ cận nghèo và đồng bào DTTS vùng biên giới;
- Tập trung vốn kiên cố hóa hạ tầng giao thông liên thôn bản và hệ thống thủy lợi, nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho vùng cao.
Limitations và Future Research
Luận án thẳng thắn chỉ ra những giới hạn khoa học không thể tránh khỏi do điều kiện lịch sử và nguồn lực:
- Giới hạn dữ liệu giai đoạn đầu chia tách tỉnh (2004 - 2006): Khi mới thành lập, hệ thống thống kê của tỉnh Điện Biên chưa hoàn thiện, một số dữ liệu phân rã cấp xã/thôn bản còn phân tán, đòi hỏi phải xử lý thông qua ước lượng lịch sử và đối soát hồi cố;
- Phạm vi thời gian dừng lại ở năm 2014: Chưa thể phản ánh toàn diện tác động của Nghị quyết 76/2014/QH13 về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020 và chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều (giai đoạn 2016 - 2020);
- Độ sâu khảo sát một số cụm dân cư vùng sâu: Do địa hình hiểm trở và chia cắt mạnh bởi thiên tai sạt lở, một số bản đặc biệt khó khăn tại ngã ba biên giới Mường Nhé chưa thể tiếp cận với mật độ mẫu dày đặc.
Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future Research Agenda) cần tập trung vào 4 hướng mở:
- Đánh giá tác động của chuẩn nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty) tại Điện Biên từ sau năm 2015 đến nay;
- Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, lũ bùn đá và thiên tai cực đoan đến tính bền vững của các trụ cột ASXH vùng Tây Bắc;
- Khảo sát thực chứng mô hình liên kết phát triển kinh tế cửa khẩu và du lịch lịch sử Điện Biên nhằm tạo nguồn thu nội tại cho quỹ an sinh xã hội địa phương;
- Đánh giá vai trò của chuyển đổi số và chi trả an sinh xã hội không dùng tiền mặt đối với vùng đồng bào DTTS trong giai đoạn hiện nay.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án mang lại những giá trị tác động sâu sắc trên cả 3 phương diện: Khoa học học thuật, Thực tiễn chính sách và Lợi ích xã hội:
- Ảnh hưởng học thuật (Academic Impact): Công trình đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực, có độ tin cậy sử liệu cao phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam tại các trường đại học, học viện lớn (Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội). Dự báo tiềm năng trích dẫn cao trong các công trình nghiên cứu về chính sách công và phát triển vùng dân tộc thiểu số;
- Tác động hoạch định chính sách (Policy Influence): Cung cấp hệ thống luận cứ khoa học chuẩn xác giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy, HĐND và UBND tỉnh Điện Biên tổng kết các kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh, xây dựng Nghị quyết chuyên đề về phát triển văn hóa - xã hội, bảo đảm ASXH giai đoạn tiếp theo;
- Ý nghĩa xã hội và an ninh quốc phòng: Góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ các cấp về tầm quan trọng sống còn của công tác an sinh xã hội tại địa bàn biên giới, củng cố vững chắc "thế trận lòng dân", bảo vệ chủ quyền biên cương Tổ quốc.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và Giảng viên chuyên ngành Lịch sử, Xã hội học, Chính sách công: Tiếp cận nguồn sử liệu gốc đã được xác minh, phương pháp luận nghiên cứu lịch sử kết hợp liên ngành chuẩn mực.
- Lãnh đạo và Chuyên viên Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ban Dân tộc tỉnh Điện Biên: Nắm vững bức tranh tổng thể 10 năm thực thi chính sách, nhận diện điểm nghẽn để tối ưu hóa nguồn lực các chương trình mục tiêu quốc gia.
- Cơ quan Bảo hiểm Xã hội tỉnh Điện Biên: Tham khảo cơ sở thực tiễn để đổi mới phương thức truyền thông, vận động phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, BHYT hộ gia đình.
- Các tổ chức quốc tế và đối tác phát triển (WB, ADB, UNDP, ILO): Có thêm tài liệu đánh giá độc lập, sâu sát về kết quả và thách thức thực thi các dự án hỗ trợ giảm nghèo tại khu vực Tây Bắc Việt Nam.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng và hoàn thiện cấu trúc lý thuyết ASXH tại Việt Nam bằng việc chứng minh và xác lập vị trí của trụ cột "Chính sách ưu đãi người có công với cách mạng" như một bộ phận hữu cơ không thể tách rời trong hệ thống an sinh xã hội 6 trụ cột tại một địa bàn chiến lược lịch sử, làm phong phú thêm lý luận quản trị rủi ro xã hội vốn thuần túy mang tính kỹ thuật kinh tế của phương Tây.
2. Điểm đổi mới phương pháp luận nổi bật khi so sánh với các công trình trước đây?
So với các nghiên cứu của Mai Ngọc Cường (2009) (nghiên cứu thuần túy lý luận kinh tế) hay Nguyễn Văn Tuân (2015) (nghiên cứu lịch sử tại tỉnh đồng bằng Hải Dương), luận án của Nguyễn Thị Thắm đã đột phá bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa khai thác tư liệu lưu trữ bậc một tại các cơ quan đầu não với phương pháp điền dã dân tộc học và phỏng vấn sâu tại các địa bàn vùng cao biên giới đặc thù phức tạp, bảo đảm tính xác thực và tính sống động của dữ liệu lịch sử.
3. Phát hiện bất ngờ và đáng suy ngẫm nhất từ dữ liệu thực tế là gì?
Đó là sự nghịch lý giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế - hạ tầng và sự nới rộng khoảng cách bất bình đẳng: Mặc dù 100% xã có trạm y tế và đường ô tô được kiên cố hóa vượt bậc, nhưng mức chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất và nghèo nhất tại Điện Biên lại tăng liên tục từ 6,72 lần (2010) lên 8,04 lần (2014), cùng với mức thu nhập bình quân đầu người chỉ vỏn vẹn 851.230 đồng/tháng. Điều này phản ánh tính chất dễ tổn thương sâu sắc của bộ phận dân cư nghèo trước quy luật phân hóa của kinh tế thị trường.
4. Quy trình kiểm chứng và tái lặp dữ liệu (Replication Protocol) có được đảm bảo không?
Tuyệt đối bảo đảm. Luận án cung cấp hệ thống chú nguồn lưu trữ chi tiết, chính xác từng mã số tài liệu, tên phông lưu trữ, số hộp, số tờ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III và Lưu trữ Tỉnh ủy, UBND tỉnh Điện Biên, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập dễ dàng tra cứu, đối chiếu và tái kiểm chứng toàn bộ thông tin sử liệu.
5. Luận án gợi mở chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo như thế nào?
Luận án định hình chương trình nghiên cứu chuyển tiếp: Đánh giá quá trình chuyển đổi căn bản của hệ thống ASXH Điện Biên từ mô hình tiếp cận nghèo đơn chiều (dựa trên thu nhập) sang mô hình tiếp cận Nghèo đa chiều (theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg) và tác động của các hiệp định thương mại biên giới đến an sinh của đồng bào DTTS giai đoạn 2015 - 2025.
Kết luận
Luận án "Quá trình thực hiện chính sách an sinh xã hội ở tỉnh Điện Biên từ năm 2004 đến năm 2014" của NCS. Nguyễn Thị Thắm là một công trình khoa học nghiêm túc, công phu, mẫu mực về phương pháp nghiên cứu lịch sử chuyên ngành.
- Công trình đã tái hiện một cách chân thực, sinh động và có hệ thống bức tranh lịch sử 10 năm thực thi chính sách ASXH tại tỉnh Điện Biên - địa bàn nghèo nhất cả nước sau chia tách tỉnh;
- Khẳng định vai trò lãnh đạo đúng đắn, linh hoạt và quyết liệt của Đảng bộ, chính quyền tỉnh Điện Biên trong việc vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng và Nhà nước vào điều kiện tự nhiên, KT-XH đặc thù của địa phương;
- Phân tích định lượng sâu sắc những thành tựu vượt bậc trên 6 trụ cột an sinh, đồng thời chỉ ra không khoan nhượng những mặt hạn chế, yếu kém nội tại và nguyên nhân sâu xa của tình trạng tái nghèo;
- Đúc rút 5 bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị thực tiễn to lớn trong việc kết hợp mục tiêu kinh tế với bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội và giữ vững an ninh biên giới;
- Khẳng định giá trị nhân văn cao cả của quyền an sinh xã hội theo đúng tinh thần Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948: "Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng an sinh xã hội. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người". Công trình xứng đáng là đóng góp học thuật xuất sắc cho kho tàng sử học Việt Nam hiện đại.