Chương 1: Lý luận về đào tạo nghề và QLNN về đào tạo nghề Chương 2: Thực trạng QLNN về đào tạo nghề ở Nghệ An từ 2008 - 2012 Chương 3: Giải pháp tăng cường QLNN về đào tạo nghề ở tỉnh Nghệ An đến năm 2020. 6 Chƣơng 1 LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỂ 1. Đào tạo nghề 1. Khái niệm và đặc điểm a.
Khái niệm Trên thế giới hiện nay có nhiều quan khái niệm khác nhau về đào tạo nghề: Theo học giả Tack Soo Chung (1982): Đào tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc được áp dụng với người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động. Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tạo, các trường đào tạo nghề, các lớp học không chính quy nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế - xã hội.24] Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): đào tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc nghề nghiệp được giao.24] Theo UNESCO (Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc) thì đào tạo nghề là đảm bảo người học có kiến thức kỹ thuật hệ thống và vững chắc, đồng thời có kỹ năng cơ bản diện rộng, trên cơ sở đó tạo khả năng thích ứng cao những biến đổi kỹ thuật và công nghệ. Đào tạo nghề có tính toàn diện, bao gồm cả mặt giáo dục và mặt huấn luyện. Đó là quá trình chuẩn bị đầy đủ nhân cách cho thanh, thiếu niên bước vào cuộc sống lao động nghề nghiệp.24] Các khái niệm trên đều là những khái niệm kinh điển về đào tạo nghề.
Căn cứ vào tình hình cụ thể, Việt Nam cũng đã đưa ra khái niệm về đào tạo nghề trong Luật Dạy nghề (ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2006): "Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm 7 hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thanh khóa học". Qua đó, ta có thể thấy đào tạo nghề là khâu quan trọng trong việc GQVL cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng đó là yếu tố cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Hiện nay, đào tạo nghề có sự tích hợp giữa lý thuyết và thực hành. Sự tích hợp thể hiện ở chỗ: nó đòi hỏi người học sinh hôm nay, người thợ trong tương lai lại phải vừa chuyên sâu về kiến thức, vừa thành thục về kỹ năng, tay nghề.
Đây là điểm khác biệt lớn trong đào tạo nghề so với học văn hóa. Đặc điểm của đào tạo nghề: - Đào tạo nghề là hình thành nhân cách người lao động mới. Thông qua quá trình đào tạo giúp người học có được kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghề nghiệp nhất định để có thể làm việc theo nghề nghiệp đó sau khi ra trường; đồng thời giáo dục cho người học những phẩm chất nghề nghiệp như: lòng yêu nghề, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức, kỷ luật trong lao động sản xuất. - Đào tạo nghề gắn liền với quá trình sản xuất.
Đây là đặc điểm cơ bản nhất. Trong quá trình dạy - học, người học muốn nắm được nội dung nghề nghiệp thì phải trực tiếp nhìn thấy quá trình sản xuất hay ít nhất thấy được mô hình của nó. Muốn đào tạo nghề có kết quả phải có một số điều kiện cơ bản sau: Máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, quỹ thời gian để luyện tay nghề, có đội ngũ giáo viên dạy lý thuyết và thực hành vừa giỏi kỹ thuật, vừa giỏi nghiệp vụ sư phạm. Ngoài ra phải tính đến việc sử dụng các thành tựu kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất theo khoa học.
Thiếu những điều kiện này, đào tạo nghề không thể đạt hiệu quả cao. - Đào tạo nghề là đào tạo thực hành sản xuất. Nội dung giảng dạy bao gồm cả lý thuyết và thực hành, nhưng thời gian thực hành sản xuất giữ vai trò chủ đạo và chiếm khoảng 2/3 thời gian đào tạo. Nội dung dạy lý thuyết và thực hành được phản ánh trong kế hoạch giảng dạy và chương trình môn học.
Hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, liên tục đổi mới công nghệ sản xuất. Vì thế, trong vòng 5 đến 7 năm phải xây dựng danh mục nghề đào tạo một lần. Đây là điểm khác biệt giữa đào tạo nghề với giáo dục phổ thông. 8 Với các đặc thù của đào tạo nghề trên đòi hỏi QLNN (QLNN) về đào tạo nghề phải tránh sự dập khuôn, máy móc khi tạo ra “sản phẩm” cũng như không được phép tạo ra “phế phẩm”.
QLNN về đào tạo nghề phải chú ý đến sự khác biệt giữa đặc điểm lao động sư phạm so với lao động xã hội nói chung. QLNN về đào tạo nghề đòi hỏi yêu cầu cao về tính toàn diện, tính thống nhất, tính liên tục, tính kế thừa, tính phát triển. Phân loại và hình thức đào tạo nghề a. Phân loại đào tạo nghề: Trong phạm vi luận văn, tác giả chỉ xét các tiêu thức phân loại như sau: - Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề: + Đào tạo ngắn hạn: là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo dưới một năm, chủ yếu được áp dụng đối với phổ cập nghề.
Loại hình này có ưu điểm là có thể tập trung được đông đảo lực lượng lao động ở mọi lứa tuổi, những người không có điều kiện học tập trung vẫn có thể tiếp thu được tri thức ngay tại chỗ, với sự hỗ trợ đắc lực của các cơ quan đoàn thể, địa phương, Nhà nước về mặt giáo trình, giảng viên. + Đào tạo dài hạn: là loại hình đào tạo nghề có thời gian đào tạo từ một năm trở lên, chủ yếu áp dụng đối với đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Đào tạo nghề dài hạn thường có chất lượng cao hơn các lớp đào tạo ngắn hạn. - Căn cứ theo trình độ đào tạo nghề: cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề.
+ Đào tạo trình độ sơ cấp nghề là nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn. + Đào tạo trình độ trung cấp nghề là trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; thời gian đào tạo từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và từ ba đến 9 bốn năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; hoàn thành khóa học được cấp bằng trung cấp nghề. + Đào tạo trình độ cao đẳng nghề là nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm, có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; thời gian đào tạo từ hai đến ba năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông và từ một đến hai năm đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề cùng ngành; hoàn thành khóa học được cấp bằng cao đẳng nghề. Các hình thức đào tạo nghề: Các hình thức đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng nhìn chung là rất đa dạng.
Tuy nhiên, về cơ bản đào tạo nghề hiện nay thường áp dụng một số hình thức chính sau đây: - Đào tạo nghề chính quy: Theo quy định của Luật Dạy nghề, đào tạo nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở đào tạo nghề theo các khóa học tập trung và liên tục. Có thể hiểu đào tạo nghề chính quy là loại hình đào tạo tập trung tại các trung tâm đào tạo nghề, các trường nghề với quy mô đào tạo tương đối lớn, chủ yếu là đào tạo các công nhân kỹ thuật có trình độ lành nghề cao. Với hình thức đào tạo chính quy, sau khi đào tạo, học viên có thể chủ động, độc lập giải quyết công việc, có khả năng đảm nhận các công việc tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ lành nghề cao. Cùng với sự phát triển của sản xuất và tiến bộ của khoa học kỹ thuật, hình thức đào tạo này ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật.
Tuy nhiên, đào tạo chính quy có nhược điểm là: Thời gian đào tạo tương đối dài, đòi hỏi phải đầu tư lớn để đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các cán bộ quản lý. nên kinh phí đào tạo cho một học viên là rất lớn. - Đào tạo nghề tại nơi làm việc (đào tạo trong công việc): Đào tạo nghề tại nơi làm việc là hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó người học sẽ được dạy những kiến thức, kỹ năng cần thiết cho công việc thông qua thực tế 10 thực hiện công việc và thường là dưới sự hướng dẫn của người lao động có trình độ cao hơn. Hình thức đào tạo này thiên về thực hành ngay trong quá trình sản xuất và thường là do các doanh nghiệp (hoặc cá nhân) sản xuất tự tổ chức.
Tổ chức các lớp cạnh doanh nghiệp: Đây là hình thức đào tạo theo chương trình gồm hai phần lý thuyết và thực hành. Phần lý thuyết được giảng tập trung do các kỹ sư, cán bộ kỹ thuật phụ trách. Phần thực hành được tiến hành ở các xưởng thực tập do các kỹ sư hoặc công nhân lành nghề hướng dẫn. Hình thức đào tạo này chủ yếu áp dụng để đào tạo cho những nghề phức tạp, đòi hỏi có sự hiểu biết rộng về lý thuyết và độ thành thục cao.