CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ QUAN HỆ KHÁCH HÀNG TRONG KHÁCH SẠN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khách sạn và kinh doanh khách sạn 1. Khái niệm khách sạn Bàn về khách sạn, hiện nay đã xuất hiện khá nhiều quan niệm khác nhau.
Theo nhóm tác giả nghiên cứu của Mỹ trong cuốn sách “Wellcome to Hospitality” xuất bản năm 1995 thì: “Khách sạn là nơi mà bất kỳ ai cũng có thể trả tiền để thuê buồng ngủ lại qua đêm ở đó. Mỗi buồng ngủ cho thuê bên trong phải có ít nhất hai phòng nhỏ (phòng ngủ và phòng tắm). Mỗi buồng khách đều phải có giường, điện thoại, vô tuyến. Ngoài dịch vụ buồng ngủ có thể có thêm các dịch vụ khác như: dịch vụ vận chuyển hành lý, trung tâm thương mại (với thiết bị photocopy), nhà hàng, quầy bar và một số dịch vụ giải trí.
Khách sạn có thể được xây dựng gần hoặc bên trong các khu thương mại, khu du lịch nghỉ dưỡng hoặc các sân bay. Đây là một khái niệm khá hoàn chỉnh về khách sạn, tuy nhiên khi áp dụng cho các khách sạn nói chung tại Việt Nam vẫn còn vài điều không giống như thực tế, vì không phải khách hàng nào dù có tiền cũng có thể sử dụng dịch vụ khách sạn, ví dụ như khách hàng không có giấy tờ tuỳ thân hoặc khách đang mang các bệnh truyền nhiễm… Trong thông tư số 01/2002/TT-TCDL ngày 27/4/2001 của Tổng cục Du lịch về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 39/2000/NĐ-CP của Chính phủ về cơ sở lưu trú du lịch đã ghi rõ: “Khách sạn (hotel) là công trình kiến trúc được xây dựng độc lập, có quy mô từ 10 buồng ngủ trở lên, đảm bảo chất lượng về cơ sở vật chất, trang thiết bị, dịch vụ cần thiết phục vụ khách du lịch. Trong khái niệm này đã quy định rất rõ khách sạn phải có tối thiểu 10 buồng ngủ. Bên cạnh đó, khách sạn phải đảm bảo chất lượng và dịch vụ cần thiết phục vụ cho khách du lịch.
Tuy nhiên, khái niệm này lại không cho thấy rõ ngoài dịch vụ lưu trú, khách sạn còn có thể cung cấp thêm các dịch vụ cụ thể nào cho khách du lịch. Trong khi đó, một số khái niệm khác về khách sạn lại có thể khắc phục được hạn chế nói trên và đã chỉ rõ ngoài dịch vụ lưu trú, khách sạn còn có thể cung cấp thêm dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và các dịch vụ khác nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Một trong những khái niệm đó là: “Khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu, đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng và tiện nghi cần thiết phục 11 vụ khách du lịch lưu trú, đáp ứng một số yêu cầu của khách về: nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các dịch vụ khác” [7, tr. Đây cũng là khái niệm phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài này.
Kinh doanh khách sạn KDKS là lĩnh vực quan trọng của KDDL. Từ khái niệm về khách sạn, có thể hiểu: KDKS là HĐKD các dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống và dịch vụ bổ sung cho khách nhằm mục đích lợi nhuận [7, tr. Khái niệm KDKS đã cho thấy rõ KDKS bao gồm 3 lĩnh vực HĐKD: - Kinh doanh lưu trú: được hiểu là hoạt động kinh doanh ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung cấp dịch vụ cho thuê phòng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách trong thời gian lưu trú tạm thời tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi. Trong KDKS, đây là lĩnh vực HĐKD đặc trưng và cơ bản nhất của khách sạn.
Thông thường, ở nước ta, đây là lĩnh vực HĐKD mang lại tỷ trọng doanh thu chủ yếu cho khách sạn. - Kinh doanh ăn uống: bao gồm các hoạt động chế biến thức ăn, bán và phục vụ nhu cầu tiêu dùng các thức ăn, đồ uống và cung cấp các dịch vụ khác nhằm thỏa mãn các nhu cầu về ăn uống và giải trí cho khách nhằm mục đích có lãi. Nội dung của kinh doanh ăn uống du lịch gồm 3 nhóm hoạt động sau: + Hoạt động sản xuất vật chất: chế biến thức ăn cho khách + Hoạt động lưu thông: bán sản phẩm chế biến của khách sạn + Hoạt động tổ chức phục vụ: tạo điều kiện để khách tiêu thụ thức ăn tại chỗ và cung cấp điều kiện để nghỉ ngơi, thư giãn cho khách Kinh doanh ăn uống cũng là lĩnh vực HĐKD cơ bản của các khách sạn. Để đáp ứng nhu cầu tổng hợp của khách hàng, hầu hết các khách sạn hiện nay đều có thể cung cấp cho khách hàng dịch vụ ăn uống bên cạnh dịch vụ lưu trú.
Thậm chí, một số khách sạn còn cung cấp dịch vụ buồng với giá trọn gói kèm dịch vụ ăn sáng phục vụ khách. Tùy thuộc vào quy mô, điều kiện và mục đích hoạt động, các khách sạn có thể phục vụ khách ăn uống với nhiều hình thức khác nhau cho cả đối tượng khách lưu trú và khách bên ngoài khách sạn. - Kinh doanh dịch vụ bổ sung: được hiểu là việc cung cấp dịch vụ bổ sung nhằm đáp ứng nhu cầu của khách với mục đích sinh lời. Thông thường, dịch vụ bổ sung trong khách sạn được chia làm nhiều nhóm: Nhóm dịch vụ giúp khách có thêm sự hiểu biết về nơi đến, Nhóm dịch vụ với mục đích giúp khách nghỉ ngơi, tăng cường sức khỏe, thư giãn, Nhóm dịch vụ phục vụ những nhu cầu đời sống hàng 12 ngày,.
Sự đa dạng và phong phú của dịch vụ bổ sung thường tương ứng với quy mô và thứ hạng của khách sạn. Ví dụ: Ở khách sạn 1 sao khách hàng sẽ được hưởng các dịch vụ bổ sung cơ bản như: Đón tiếp 24/24, đổi ngoại tệ, giặt là, điện thoại trong và ngoài nước,… Khách sạn 2 sao có thêm dịch vụ bổ sung là quầy lưu niệm, đặt vé máy bay, tàu xe,… Khách sạn 3 sao có thêm dịch vụ phòng họp, phòng khiêu vũ,… Khách sạn 4 sao có thêm dịch vụ cửa hàng lưu niệm, bể bơi, phòng xông hơi, … Và rất nhiều dịch vụ bổ sung khác tương ứng với thứ hạng khách sạn. KDKS có những đặc điểm cơ bản như sau [7, tr.111-113]: - KDKS chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố TNDL Tài nguyên du lịch ảnh hưởng mạnh đến hoạt động kinh doanh khách sạn. Khách sạn sẽ vận dụng giá trị tài nguyên du lịch để thiết kế, đầu tư xây dựng.
Sự phong phú về tài nguyên du lịch cùng sự tiếp nhận sẽ tạo nên giá trị, sức hấp dẫn cũng như thứ hạng và hiệu quả kinh doanh của khách sạn. Trong trường hợp các yếu tố khách quan tác động đến sự hấp dẫn của tài nguyên du lịch, khách sạn cần có sự điều chỉnh về cơ sở vật chất cho phù hợp. - Sản phẩm của KDKS chủ yếu là sản phẩm dịch vụ Kinh doanh khách sạn có 3 mô hình chủ yếu là: lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung. Sản phẩm kinh doanh chủ yếu của khách sạn chủ yếu là dịch vụ, mang tính chất vô hình.
Chất lượng dịch vụ khách sạn mang lại không ổn định, phụ thuộc vào trình độ, tâm lý của người cung ứng và sự cảm nhận từ phía khách hàng. Sản phẩm dịch vụ không thể bảo quản được, nó được sản xuất và tiêu dùng đồng thời cả thời gian và không gian. Đặc biệt, sản phẩm kinh doanh khách sạn mang tính cao cấp, tổng hợp cao và chỉ có thể thực hiện với điều kiện cơ sở vật chất nhất định. - Khách hàng tiêu dùng sản phẩm dịch vụ của khách sạn chủ yếu là khách du lịch.
Khách hàng chủ yếu của khách sạn là khách sạn là khách du lịch và dân cư địa phương. Trong khi khách du lịch thường sử dụng dịch vụ lưu trú và dịch vụ bổ sung gắn với lưu trú thì dịch vụ đơn lẻ như ăn uống, giải trí lại thường đáp ứng nhu cầu của dân cư địa phương. - KDKS đòi hỏi nhiều vốn đầu tư và nhân lực Khách sạn đòi hỏi một lượng vốn rất lớn. Tùy theo quy mô, loại hạng khách sạn mà lượng vốn đầu tư sẽ khác nhau.
Để bắt tay vào xây dựng nền móng hoạt động, khách sạn cần đầu tư một lượng lớn vốn vào: đất đai, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật. Với quy mô lớn, loại hạng cao yêu cầu chất lượng dịch vụ và cơ 13 sở vật chất càng cao khiến chi phí ban đầu khách sạn phải đầu tư tăng theo. Tiếp đó, trong quá trình hoạt động khách sạn cũng phải luôn duy trì một lượng vốn, đảm bảo duy trì khách sạn cũng như luôn sẵn sang đáp ứng nhu cầu của khách hàng. - KDKS mang tính thời vụ rõ rệt Kinh doanh khách sạn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là đối với các khách sạn mà hoạt động kinh doanh gắn liền với điều kiện tự nhiên.
Điều kiện tự nhiên tạo nên giá trị, sức hấp dẫn đến nhu cầu du lịch của khách hàng. Sự biến đổi lập lại hàng năm của quy luật thiên nhiên tạo nên tính thời vụ, có thể kể đến các khách sạn gắn chặt với điều kiện tự nhiên như khách sạn biển mùa hè, khách sạn nghỉ dưỡng mùa đông,… Đặc điểm này tạo nên sự mất cân đối giữa cung và cầu dịch vụ, khách sạn sẽ phải tính toán, nghiên cứu để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tránh lãng phí nguồn lực vào chính vụ hay thiếu hụt sản phẩm dịch vụ vào chính vụ. Khách hàng của khách sạn Tùy theo hoàn cảnh và mục đích nghiên cứu mà người ta đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khách hàng như: “Khách hàng là những người trong hiện tại hoặc tương lai có khả năng mua hàng, cũng có khả năng dùng những sản phẩm của doanh nghiệp” [4, tr.10] hoặc “Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang hướng các nỗ lực Marketing vào. Đây là những cá nhân hay tổ chức có điều kiện quyết định mua sắm.32] Khách hàng ở đây còn là những người thực hiện các giao dịch với doanh nghiệp, bằng nhiều hình thức: gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua điện thoại hay giao dịch trực tuyến.
Đây chính là cách hiểu truyền thống về khách hàng, không có những khách hàng như thế này, doanh nghiệp cũng không thể tồn tại. Những khách hàng được thỏa mãn là những người mua và nhận sản phẩm, dịch vụ của chúng ta cung cấp. Khách hàng có quyền lựa chọn, nếu sản phẩm và dịch vụ của chúng ta không làm hài lòng khách hàng thì họ sẽ lựa chọn một nhà cung cấp khác. Khi đó doanh nghiệp sẽ chịu thiệt hại.